Ủng hộ VCV
Số tác phẩm
22.460 tác phẩm
2.580 tác giả
116
76.412.107
 
Thái sư, Tuy Thạnh Quận công Trương Đăng Quế -3
Trương Quang Cảm

Về bài thơ này trong “Các tham luận tại hội thảo khoa học...” có ý kiến khác nhau. Một số tác giả cho rằng tiên sinh giả gởi bánh cho con của người láng giềng. Họ lý giải làm quan không thể nào nghèo đến mức như vậy và phu nhân cũng không có cái tính “năm dài buồn giận, rộng hẹp sinh tuổi hờn”. Một số tác giả khác thì cho rằng tiên sinh làm quan rất thanh liêm nên nghèo đến độ không có tiền gởi bánh cho con “mấy cái bánh là mấy giọt lệ”. Theo tôi, tiên sinh gởi bánh cho con, lúc còn đang đi học bởi hoàn cảnh bấy giờ như ông đã kể trong bài “Trường An du

 

Thủy ngã xuất môn thì

Vị ngã cần học lực

Thê vị phùng kỳ y

Tỷ vị tặng kỳ thực

 

Dịch:

Buổi đầu rời tổ ấm

Cần học phải đi xa

Áo vợ lo may sắm

Cơm ăn chị ta cho

 

Hơn nữa nếu hiểu gởi bánh cho con cũng không hề giảm giá trị của phu nhân. Hai câu thơ dễ làm cho người ta hiểu nhầm là:

 

Nhữ mẫu đa sầu hận

Khoan thúc sinh oán trụy

(Mẹ năm dài buồn giận

Rộng hẹp sinh tủi hờn)

 

Thực ra câu thơ phải được hiểu  như thế này mới đúng: Mẹ con có nhiều điều buồn hận; rộng (khoan) với người ta thì không đủ sức còn hẹp (thúc) với người ta thì không chịu được. Chính điều đó tiên sinh đã hiểu đúng vợ mình và cũng là nguyên nhân khiến ông cảm thấy khổ không yên long.

 

Khi tiễn cháu gọi bằng cậu về quê, tiên sinh đăm đăm nhìn theo cháu rồi chạnh lòng nghĩ đến thân cháu mồ côi mẹ, ngày ngày lủi thủi nơi mộ mới của em mình mà nghẹn ngào xúc động

 

Thu phong tạc dạ lãnh xâm y

Trù trượng lâm kỳ  tống nhữ quy

Thiên lý khách hoài thương độc tự

Bách niên nhân sự thán đa vi

Cố viên tân trũng mai ngô muội

Cô quán tàn đăng mãn đế kỳ

Ký tạ thân tình hưu  động vấn

Thương tâm vô ngữ đối tà huy

(Tống ngoại sanh Bùi Hữu Nghị hoàn lương)

 

Dịch:

Heo may thấm áo lạnh đêm qua

Ngõ ngặt buồn đưa cháu lại nhà

Nghìn dặm lữ hành thương chiếc bóng

Trăm năm cuộc thế khổ chia xa

Vườn quê mộ mới em hiu quạnh

Quán trọ đèn khuya ngợp gấm hoa

Gởi tạ tình thân thôi chớ hỏi

Nghẹn lời dạ úa ánh dương tà

 

Bài thơ thể hiện tình cảm của cậu đối với cháu. Trong việc biểu hiện tình cảm, tác giả còn thổ lộ tâm trạng mình cho cháu nghe nữa. Nói về chuyện đời, tiên sinh than “Trăm năm chuyện đời mình cứ than hoài, nó trái với ý mình” (Bách niên nhân sự thán đa vi). Nói về mình, tiên sinh thổ lộ cho cháu biết cảnh cậu sống ở đây (tức chốn kinh đô) chẳng khác gì cảnh cô quán (Cô quán tàn đăng mãn đế kỳ). Kết thúc bài thơ, tác giả gởi lời từ tạ với người thân tình và dặn cháu thôi đừng có hỏi về cậu nữa vì lòng thương của cậu đã bày ra đấy rồi, cậu không nói được gì nữa

 

Ký tạ thân tình hưu động vấn

Thương tâm vô ngữ đối tà huy

 

Trương Đăng Trinh là cháu gọi tiên sinh bằng chú ruột, được tiên sinh mang theo dạy dỗ. Tiên sinh quý cháu như con đẻ. Đăng Trinh trúng cử nhân năm 1841 và tiến sĩ đồng xuất thân khoa Nhâm Dần 1842 là người khai khoa thủ sĩ thi hội và thi đình cho tỉnh Quảng Ngãi. Tiên sinh mừng cho cháu, cho gia đình dòng họ và cho đất nước có thêm nhân tài. Tiên sinh đặt niềm tin ở đứa cháu có phẩm hạnh và tài năng này. Nhưng không may, Đăng Trinh vừa được bổ vào Viện Hàn Lâm có mấy tháng thì bị bịnh mất 1843, hưởng dương 32 tuổi. Từng dòng thơ khóc cháu là những chuỗi huyết lệ. Tiếng thơ khóc cháu thật cảm động. Nó vượt ra ngoài giới hạn chú khóc cháu thường tình, mà là tiếng khóc cho một nhân tài, khóc cho số kiếp tài hoa sớm nở tối tàn. Tiên sinh cũng biết bậc quân tử “bất oán thiên bất vưu nhân” (không trách trời không giận người) thế nhưng nỗi đau đến độ xé lòng, tiên sinh phải buộc miệng kêu: “Trời xanh ơi! tại sao?”

 

Vũ kỷ nhất trường đỗng

Ức nhữ hữu sanh thì

Đường thương bạch phát thân

Tất hạ hoàng khẩu nhi

Xả thử lai kinh trung

Duy dư thác thị y

Nam Bắc phong sương khổ

Kỷ tải trường tương tùy

Cần độc lệ tố nghiệp

Nga khoảnh vị tam ly

Khứ xuân nam cung tiệp

Sảo khả ủy tâm kỳ

Thiếu niên nhập Hàn Lâm

Thư hương đạt đế tri

Thẩn thị cầu dã nghệ

Tùng chánh sơ ưu vi

Ngã lão nhữ phương tráng

Hội dương canh thiết thi

Khởi liệu tam thập linh

Sở vọng thúc dĩ vi

Hảo vật bất nại cửu

Xuân hoa dung dị nuy

Du du thương giả thiên

Phước thiện hồ ngô khi

Cố hương cách thiên lí

Quan sơn viễn uy di

Tuyền đài lộ bất minh

Nhữ khứ tương an quy

Thân lão tử hựu ấu

Khổ huống phân nan chi

Niệm cập tồi tâm can

Sảng nhiên hữu dư bi

(Khốc huynh tử Hàn Lâm Tu Soạn Đăng Trinh) 

 

Dịch:      

Vỗ ghế lòng xót xa

Nhớ cháu lúc sinh thời

Tóc bạc mẹ cùng cha

Dưới gót con thơ dại

Bỏ hết ra kinh đô

Nương tựa mỗi mình chú

Nam Bắc bao gian khổ

Theo chí trải nhiều năm

Chăm đọc nối nghiệp tổ

Một khắc cũng không lìa

Xuân rồi tiến sĩ đỗ

Biết sợ lòng ước mong

Thiếu niên vào Hàn Lâm

Tài năng vua biết đến

Đã theo nghiệp thơ văn

Tùng khánh là rất tốt

Ta già cháu trai trẻ

Chính là lúc đua tài

Ôi!  ba mươi tuổi lẻ

Ước mong lòng đơn sơ

Vật tốt khó bền sao

Hoa xuân dễ khô héo

Thăm thẳm trời xanh cao

Lừa dối ta - Phúc thiện

Cố hương ngàn vạn lý

Quan quan xa biết bao

Tuyền đài đường mờ mịt

Cháu đi về làm sao!

Cha mẹ già con nhỏ

Đau khổ biết nhường nào

Nghĩ đến lòng chua xót

Trời xanh ơi!  tại sao?

(Huỳnh Châu dịch)

 

Trong văn học Việt Nam, ta thấy đã có thơ chồng khóc vợ, vợ khóc chồng, bạn khóc bạn, nhiều bài nổi tiếng như: Ai tư vãn của Ngọc Hân công chúa; Khóc Dương Khuê của Nguyễn Khuyến. Riêng thơ khóc cháu thì rất hiếm. Cho nên chúng ta có thể coi đây là một đóng góp của tiên sinh vào thơ ca Việt Nam về đề tài khóc cháu. Ở Trung Quốc thời nhà Đường có bài văn khóc cháu của Hàn Dũ rất nổi tiếng. Trương tiên sinh cách Hàn Dũ đến hơn mười thế kỷ. Hai con người ở hai thời đại khác nhau nhưng lại giống nhau ở niềm đau mất cháu. Hàn Dũ khóc cháu như sau: “Ô hô! Ta lúc nhỏ mồ côi, lớn lên nương tựa anh ruột chị dâu. Giữa đời anh mất, ta và ngươi đều bé, cùng chị đưa anh táng ở Hà Dương. Rồi cùng ngươi kiếm sống ở Giang Nam, linh đinh cô khổ, chưa một ngày rời nhau. Ta có ba anh đều bất hạnh mất sớm. Thừa tiếp tổ tiên, cháu chỉ có ngươi, con chỉ có ta, hai đời một thân, hình đơn ảnh chiếc. Chị dâu ta thường hay vỗ ngươi  chỉ ta mà rằng: “Hai đời họ Hàn chỉ có bấy nhiêu thôi”. Lúc đó ngươi còn nhỏ chẳng nhớ được gì. Ta đã biết chút ít, nhưng cũng chưa rõ được điều ấy bi đát đến mực nào!  Ta mười chín tuổi đến kinh thành, bốn năm sau về thăm ngươi. Lại bốn năm nữa ta về Hà Dương thăm phần mộ gặp ngươi đưa chị dâu ta về táng. Hai năm sau ta giúp Đỗng thừa tướng ở Biện Châu, ngươi đến thăm ta chỉ một năm, rồi xin về. Năm sau thừa tướng mất, ta rời Biện Châu ngươi chẳng lại (... ). Than ôi!  Ai bảo được rằng ngươi rời ta rồi mất. Thời trẻ ta và chỉ tạm xa nhau, nghĩ rồi sẽ ở với nhau mãi mãi. Ta rời ngươi để theo cơm áo ở kinh sư, dầu chức cao bỗng hậu  vẫn muốn có ngươi bên cạnh. Năm rồi ta gởi thư nhờ Mạnh Đông Dã trao ngươi, cho biết ta bốn mươi mà mắt đã lờ mờ, tóc ngã màu sương, răng lay động, nghĩ đến cha anh mạnh khỏe mà mất sớm, ta đã suy thì làm sao lâu bền được? Ta không đến ngươi không lại, nếu lỡ có chết làm sao bảo bọc cho nhau! Ai ngờ bé lại mất, lớn mà còn, mạnh thì chết non, bệnh mà sống trời ơi! Có tin được không? hay là mộng hay là lời báo sai? Tin hay ngờ? Anh ta thạnh đức mà còn yểu để mất sở tự, chú minh mẫn mà không nhờ được ơn phước? Trẻ mạnh mà chết yểu, già thêm suy mà còn đây tin được sao? (...). Than ôi! ngươi bệnh ta không biết giờ, ngươi chết ta không biết ngày. Sống chẳng hay cùng ở nuôi nhau, chết chẳng hay vỗ ngươi mà thương tiếc chẳng liệm áo quan, chẳng đến mồ mả, ta phụ thần minh chăng, để khiến ngươi yểu mệnh? Chẳng hiếu chẳng lành? Không nuôi ngươi khi sống? Giữ ngươi khi mất? Một ở chân trời, một ở góc biển? Lúc sống không hình theo bóng lúc chết chẳng theo mộng, ta làm gì đây, ta oán ai đây, hỡi trời xanh? (Trích tế thập nhị lang văn trong cổ văn quan chỉ).

 

Trong tình huynh đệ, đề tài bình thường không có gì khác ngoài lòng biết ơn, thương nhớ và khóc chị, khóc anh, khóc em, khóc cháu nhưng cách biểu lộ tình cảm của tác giả thật phong phú và đa dạng, không bài nào giống bài nào. Mỗi bài biểu hiện một cách riêng biệt nhưng chung qui lại vẫn là tình cảm chân thành quí mến anh, chị, em, cháu của tác giả.

 

4. Tình bằng hữu

 

Tình bằng hữu là thứ tình cảm tối trọng được xếp thứ năm trong ngũ luân. Trong đời sống ai ai lại không có bạn. Bạn bè có đủ mọi thứ: bạn học, bạn láng giềng, bạn qua đường v.v... Nói chung bạn bè thì nhiều  nhưng bạn tâm giao rất ít. Cho nên vấn đề “trạch hữu” (chọn bạn) là rất quan trọng. Người xưa quan niệm: chơi với bạn tốt như vào nhà có cỏ chi cỏ lan thơm, lây mà không biết, chơi với bạn xấu như vào hàng cá dính mùi tanh mà không hay (Dữ thiện nhân cư, như nhập chi lan chi thất; dữ bất thiện nhân cư, như nhập bào ngư chi tứ). Đối với tiên sinh cũng vậy. Tình bằng hữu là rất quí. Ông coi trọng tình nghĩa bằng hữu nhưng không phải vì thế mà đụng ai ông cũng kết giao. Những kẻ lòng dạ xấu xa đầu  môi chót lưỡi xu nịnh tiên sinh dứt khoát không kết thân. Tác giả cho rằng mùi thơm, mùi thối không thể cùng hợp với nhau, lòng mỗi người mỗi khác:

 

Hương xú bất tương đầu

Nhân các kỳ hữu tâm

(Di tỷ)

 

Rồi tiên sinh đi đến kết luận làm sao có thể kết chung với nhau được: Ninh năng quần dữ du  (Di tỷ).

 

Trong bài Tạp hứng (bài sáu) một mặt ông vừa phê phán kiểu kết thân cẩu thả một mặt ông bày tỏ quan điểm của mình:

 

Cố giả trọng tri giao

Kim giả hà thảo thảo

Ngô phi hiếu du nhân

Khai khẩu triết đạo hảo

 

Dịch:

Người xưa coi trọng tri giao

Mà nay cẩu thả làm sao thế này

Ta không dua nịnh kết bầy

Cứ khen tốt tốt hay hay vừa lòng

(Huỳnh Châu dịch)

 

Bạn bè người nào hiểu được ông thì ông quí mến vô cùng. Trong bài Ký hữu tiên sinh tâm sự với bạn rất chân tình: ông cho mình tính vụng về nên khó hợp người, duy chỉ có bạn là hiểu thôi. Từ giã làng xóm ra kinh đô ở, coi kinh đô là nhà, sống không có hàng xóm, bạn là thân thiết, làm việc gì bạn cũng biết và lòng bạn không bao giờ ghét mình. Xa nhau lâu, lòng cũng không thay đổi, cầm quyền giàu sang không phải là điều muốn của hai chúng ta. Vì thế lúc nào tác giả cũng nghĩ về người bạn đó:

 

Tính chuyết quả sở hợp

Độc dữ quân tương tri

Tự tùng quan thú lai

Từ hương gia kinh sư

Khách cư vô tri lân

Đông triếp khởi quân tư

Nhân sinh quý an thích

Câu thúc đồ nhỉ vi

Ngô sự cẩu đắc nhàn

Phi y tứ  sở chi

Lương phong phác diện lai

Vi vũ  hạ phi phí

Vọng vọng hành hướng quân

Triều thoái quy lai trì

Bần tiện ủy lao bãi

Triều tọa điều thê nhi

Ngã tâm bi sở tồn

Lâm lộ cửu trù trì

Tri quân tình bất yếm

Cửu viễn vô biến di

Tích nhân luận giao đạo

Thùy giới tại sổ ty

Quyền quý phi ngã ngẫu

Tư quân diệc hữu thì

 

Dịch:

Tính vụng khó hợp người

Chỉ mình anh biết thôi

Làm quan từ buổi ấy

Nơi kinh đô xa xôi

Đất khách không bè bạn

Nghĩ là nhớ anh thôi

Ở đời quý sở thích

Thân ta trói buộc rồi

Việc quan sao nhàn được

Khó muốn là đi thôi!

Gió mát phất qua mặt

Mưa nhỏ rơi bồi hồi

Đăm đăm về hướng anh

Khi bãi chầu, sắp tối

Người nghèo mừng xong việc

Cùng vợ con đùa vui

Ngần ngại bước trên đường

Lòng cứ buồn không nguôi

Biết anh không chán ta

Dù cách lâu không đổi

Người xưa bàn giao tiếp

Chú trọng điều này thôi

Quyền quý đâu hợp ta

Nghĩ đến anh lâu rồi

( Huỳnh Châu dịch)

 

Tiên sinh quý bạn đến mức, ban đêm trời tối vẫn đi đến nhà bạn ở  tận trong thôn xóm để thăm. Đi được nửa đường gặp lúc mưa lớn, trời tối ông đành phải trở về trong nỗi buồn ray rứt:

 

Thao thao vũ vi dĩ

Nhậm ý hướng tiến hành

Trung tâm hữu sở tàng

Liêu dĩ cầu hữu sanh

Cố nhân phương yểm môn

Cao ngọa sầu không minh

Đê hồi cù lộ trắc

Giáo ngã nan vi tình

Minh sắc mạc nhiên lai

Sương phong thê tứ linh

Vi vi yên thụ  ngoại

Kỷ cá hôn tinh minh

Cô hoài ám dị thương

Lâm vọng nan cửu đình

Quy lai khế diêm hạ

Tức ý tư tự ninh

(Mạo vũ phỏng hữu nhân thôn cư trung đồ nhật mộ trướng nhiên nhi phản)

 

Dịch:

Mưa rơi rơi chưa dứt

Ta muốn đi về trước

Lòng có điều ray rứt

Ghé bạn thăm cho được

Cửa bạn đóng kín chặt

Nằm cao buồn sướt mướt

Đường mấp mô trúc trắc

Niềm thương đành chùn bước

Màn đêm buông ào ạt

Sương gió giăng lướt thướt

Khói cây xa mờ nhạt

Sao vài ngôi điểm xuyết

Xót xa niềm cô tức

Ngó mông khôn chầu chực

Về dưới mái nghỉ ngơi

Muốn đi chờ khi khác

 

Bạn hẹn đến chơi với ông nhưng lại không đến. Ông chờ đợi bạn trong khắc khoải ngẩn ngơ. Ông hết nhìn ra đầu cầu đến nhìn lên bầu trời rồi lại nhìn chồng sách vở

 

Tạc dạ tín hữu ước

Như hà kim bất lai?

Kiều đầu nhân quá tận

Thiên tuế điểu phi hồi

Thư quyển không tương hướng

Môn phi bán tự khai

Trì trù minh nguyệt dạ

Ngọc lậu nhược vi thôi

(Vọng hữu nhân bất chí)

 

Dịch:

Tin hẹn đến đêm qua

Mà nay sao chẳng lại?

Đầu cầu người dần xa

Khắp ngả  chim về mãi

Sách vở nhìn thờ ơ

Cửa then cài lỡ nửa

Ánh trăng đêm ngẩn ngơ

Thời khắc buông uể oải

(Trông bạn chẳng đến)

 

Có những đêm mưa, tiên sinh nhớ bạn đến mức không sao chợp mắt được, phải ngồi dậy mắt cứ trông ra ngoài trời, tai nghe từng hồi trống cầm canh điểm

 

Thiên địa phong vũ hợp

Không đình tứ vọng diêu

Cô đăng nhập dạ hàn

Canh cổ thanh liêu liêu

Tàn nguyệt tự đông sanh

Hồ ba trướng vi triều

Tư quân bất khả kiến

Độc tọa tâm hồn diêu

(Phong vũ dạ hoài cố nhân)

 

Dịch:

Gió mưa ngợp đất trời

Sân vắng mắt xa vời

Đèn soi đêm hiu hắt

Trống canh điểm chơi vơi

Đằng đông trăng tàn trôi

Hồ sóng triều lên khơi

Nhớ ông nào gặp mặt

Ngồi không lòng bồi hồi

 

Đưa tiễn bạn đi ra Bắc, ông tưởng tượng ra cảnh bạn đi lủi thủi một mình trên đường dài thăm thẳm, không có ai bầu bạn, lòng ông bỗng trào lên nỗi băn khoăn lo lắng

 

Ước ngã đồng chu khứ

Nhi kim quân lục hành

Trình đồ thùy dữ bạn

Bạt thiệp thả cô chinh

Tứ dữ sơn vân hợp

Sầu tùy hải nguyệt sanh

Kinh thành tương hội xứ

Câu thi khách trung tình

(Tống hữu nhân chi Bắc thành đính dĩ kinh đô tương hội)

 

Dịch:

Ông hẹn ta trẫy thuyền

Nay đơn chiếc chinh yên

Trải đường dài ai bạn

Vượt núi sông tự chuyên

Tơ tưởng hợp mây ngàn

Ưu phiền theo trăng biển

Trường An mong gặp lại

Niềm lữ thứ triền miên

 

Khi bạn ông là Quảng Ninh Công con trai thứ ba mươi của vua Minh Mạng tên là Miên Bí cũng là người hay thơ, có chân trong Mặc Vân thi xã không may qua đời, tiên sinh đau đớn khóc bạn thật thê lương. Lời thơ cho thấy tiên sinh còn lại một mình sống tiếp nối những ngày tháng đơn côi trong đầm đìa nước mắt

 

Truất truất kim chi tú

Đình đình ngọc thụ tư

Hồ thiên giao đoản mệnh

Dữ thế cảnh trường từ

Cô nữ niên phương ấu

Từ thân lão cánh bi

Ta tai thân hậu sự

Đọa lệ hữu di bi

(Khốc Quảng Ninh Công)

 

Dịch:

Cành vàng tươi tốt biết bao nhiêu

Cây ngọc mười phân dáng mỹ miều

Về với số trời mau cát bụi

Rời xa cuộc thế sớm cô liêu

Gái thơ bé bỏng đau côi cút

Cha mẹ già nua tuổi hắt hiu

Buồn ngẫm mình ta ngày tiếp nối

Lệ đầm bia mới xót trăm chiều

 

Hai câu kết của bài thơ là hai câu thơ hay nhất: Ta tai thân hậu sự - Đọa lệ hữu di bi (Thương ôi, việc sau  khi cái thân của bạn mất rồi, rơi lệ chỉ còn sót lại cái bia thôi). Cái đau xót của ông là bạn chết rồi thì thân xác của bạn cũng biến theo mất, nhìn lại chỗ bạn nằm duy chỉ còn thấy tấm bia mà thôi. Từ tình thương và nỗi đau xót, tác giả vươn tới triết lý nhân sinh. Cuộc nhân sinh là như thế. Khi còn sống con người còn tất cả, đến lúc mất con người mất hết tất cả. Ý thơ của ông có phần nào cũng giống câu thơ của Nguyễn Gia Thiều “Trăm năm một đám cỏ khâu xanh rì  (Cung oán ngâm khúc).

 

Chúng ta đã biết tiên sinh làm quan to ở triều đình nên bạn bè rất đông. Ngoài các danh sĩ trong Mặc Vân thi xã thường cùng tiên sinh hội ẩm, xướng họa thơ văn còn có nhiều danh sĩ khác tới lui công tác chuyện trò. Tình cảm ấy được tác giả biểu hiện qua các lần tao ngộ, chia tay... Người đọc có thể tìm thấy ở ông một tình bạn chân thành, giản dị, không kiểu cách khách sáo. Đặc biệt ông coi trọng tình bạn cốt ở tấm lòng hiểu biết và quý mến nhau.

 

5. Tình bác ái:

Tiếp nối trào lưu nhân văn chủ nghĩa giữa thế kỷ  XVIII của các nhà thơ Nguyễn Du, Nguyễn Gia Thiều, Đặng Trần Côn, Hồ Xuân Hương, ông cũng quan tâm đến số phận người phụ nữ. Ông thương xót cho số phận của cô gái ở chốn thanh lâu. Vốn là một cô gái xinh đẹp mỹ miều lại phải đem thân cho thiên hạ mua cười, nhưng rồi tuổi xuân qua đi, cái già xồng xộc tới. Thân phận bị bỏ rơi long đong. Nàng vừa thương cho nỗi mình vừa oán trách cho số kiếp. Ở đây ta bắt gặp tính nhân văn của Nguyễn Du đã chảy sang Trương Đăng Quế. Trong Văn chiêu hồn, Nguyễn Du viết:

 

Cũng có kẻ nhỡ nhàng một  kiếp

Liều tuổi xuân mua nguyệt bán hoa

Ngẩn ngơ khi trở về già

Chồng con đâu tá biết là cậy ai?

 

Với tấm lòng thương cảm sâu xa, Trương Đăng Quế cũng viết:

THANH LÂU OÁN

Dương hoa chánh hảo khan

Đào hoa diệc phục tiên

Nhân sinh kỷ thời hảo

Nhan sắc khí trí lão

Đại chung đồ nhiên

Trường An thiếu niên du đãng tử

Vãng lai du hí Trường An lí

Vi nhan tác thái đa khả lân

Đắc ý đồng tâm hướng thùy thị?

Triêu du tử mạch vãn lai qui

Dục ngữ trì trù khước liễm mi

Sách tánh lâm đăng chiếu minh kính

Tư căng nhan sắc vị thường suy

Vân hoàn vãn tựu tân cung dạng

Giá dữ xuân phong bất đa nhượng

Quân khan thập bội mỹ ư hoa

Thùy nhẫn xuân hoa tiếu tương hướng

 

Dịch:

HẬN LẦU XANH

Hoa dương óng ả lạ nhường

Hồng đào tươi tắn dễ thường không yêu

Ngày xanh phỏng được bao nhiêu

Má hồng thoáng chốc tiêu điều già nua

Trò đời lắm nỗi gió mưa

Tình người quen thói đong đưa qua đường

Có chàng trẻ tuổi lang thang

Tới lui đào mận Trường An ngày ngày

Đầu mày cuối mắt đắm say

Tâm đầu ý hợp hỏi rày mong ai

Sáng chiều ngõ tía rong chơi

Thẹn thuồng muốn nói, nghẹn lời cau mi

Đèn khuya gương rọi tâm tư

Ngùi thương nhan sắc vẫn như dạo nào

Tóc mây vấn gọn buổi đầu

Chi nhường gió sớm dạt dào tình xuân

Hơn hoa sắc sảo bội phần

Nhìn hoa ai nỡ lần khân bông đùa?

 

Ông còn mượn lời người vợ bị chồng bỏ để nói lên nỗi bất công của tất cả những người phụ nữ sống trong xã hội cũ. Lúc còn xuân thì cùng nhau thề nguyền yêu đương hết mực một bước không rời. Về sau nhan sắc của người phụ nữ dễ mau tàn phai trước, người chồng thay lòng đổi dạ ngoảnh mặt làm ngơ. Số phận của người phụ nữ bị bỏ rơi. Đó là điều bất công mà ông đã lên tiếng cảnh báo, bênh vực, đòi quyền sống, quyền hạnh phúc cho họ

 

Tích thiếp thiếu niên thì

Dữ quân vi tương tri

Thệ thủ đồng bách niên

Tương hoan vô biệt ly

Kim triêu nhan sắc suy

Quân hành đa khả nghi

Dục ngôn bất khả đắc

Tương kiến chung vô kỳ

Quân như sơn thượng tùng

Độc lập cố bất di

Thiếp như thủy trung chu

Phiêu bạt vô khả y

Trầm tư mỗi nhật dạ

Thử tình đương cáo thùy

Khai môn dục tiền khứ

Bất tri hà sở chi

Tương cách kỷ lý hử

Tương đối như thiên nhi

Quân lượng chấp cao tiết

Tiện thiếp phù hà vi

(Khí phụ từ)

 

Dịch:

Xưa thiếp còn bé bỏng

Vầy lứa đôi cùng chàng

Thề mãi hình theo bóng

Chung vui chẳng lìa tan

Nhan sắc sớm suy vong

Lang quân dạ trái ngang

Nói ra dường ngập ngọng

Hẹn đâu thêm bẽ bàng

Chàng là tùng trên non

Bền chân như thạch bàn

Giữa dòng thiếp thuyền con

Đời phiêu bạt lang thang

Ngày đêm lòng héo hon

Hỏi cùng ai thở than

Muốn bước ra ngoài song

Biết chốn nào rẽ sang?

Đường xa bao nhiêu phỏng

Mà cách nhau dặm ngàn

Chàng quyết giữ tiết trong

Thiếp làm sao hở chàng?

 

Thấy một cô gái bên dòng sông xuân đêm qua trong cảnh mưa rơi cứ đi dọc ven bờ với dáng hình thu nhỏ, ông không ngăn được cảm xúc:

 

Tạc dạ vũ thủy hạ

Xuân giang vi lãng sanh

Thiếp tâm sở hữu cảm

Diên ngạn tự vi hành

(Xuân giang khúc)

 

Dịch:

Đêm qua có mưa nhỏ

Lòng sông sóng gợn mờ

Lòng em xao xuyến bấy

Ven sông bước bước hờ

(Bài ca sông xuân - Lê Kỉnh dịch)

 

Năm 1836 Minh Mạng thứ 17, ông được cử đi dẹp cuộc nổi dậy Lê Duy Hiển ở vùng thượng du Thanh Hóa. Các cuộc nổi dậy này là do các quan muốn cát cứ chống lại  nhà Nguyễn. Qua bài Kỷ hành, ông kể lại sự việc này một cách chân thật và khiêm tốn

 

Tuế  diễu phụng Bắc hành

Sóc phong chiến hàn lật

Tráng chí khinh trường đồ

Nhung can đại hoa bút

Thư sanh vị tri binh

Tằng bị Tư Mã trật

Trù hoạch tuân miếu mô

Tôn Ngô vô dị thuật

Tướng sĩ cổ dũng tiến

Man phỉ tận bôn dật

Tiễu bình công hanh thành

Bài thị dụ đắc thất

 

Dịch:

Cuối năm phụng mạng đi ra Bắc

Gió bấc heo may lạnh buốt xương

Hùng tâm tráng khí mà lên đường

Giáp binh tạm thay cho bút nghiên

Đọc sách nên chưa biết việc binh

Mà lại làm quan trật Tư 

Làm theo kế hoạch của triều đình

Tôn Ngô cũng không thuật gì lạ

Khích lệ  tướng sĩ anh dũng tiến

Man phỉ hoảng kinh bỏ chạy hết

May mắn bình định được hoàn thành

Cáo thị hiểu dụ chuyện được mất

(Huỳnh Châu dịch)

 

Quân giặc bỏ chạy vào núi, tiên sinh không cho truy giết mà chủ trương:

 

Viên khai tam diện nhân

Từ từ gia vũ tuất

Hành chi tuần nhật gian

Kinh tán thứ đệ xuất

 

Dịch:

Mở ra ba mặt đức nhân

Vỗ về an ủi nhân dân chốn này

Trong vòng chỉ  có mười ngày

Những kẻ chạy trốn ra ngay đầu hàng

(Huỳnh Châu dịch)

 

Kết quả:

Nghịch đảng nhất triêu tất

Sở chí bất tham tàn

(Đảng nghịch một sớm rã tan

Không cần làm việc tham tàn bất nhân)

 

Ở đây tiên sinh đã dùng chiến lược, chiến thuật tài tình lấy “mưu phạt tâm công” làm chính, theo kiểu Nguyễn Trãi. Và ông đã tiếp nối quan điểm của Nguyễn Trãi là:

 

Họ đã tham sống sợ chết mà hòa hiếu thực lòng

Ta lấy toàn quân là hơn để nhân dân nghỉ sức

Chẳng những mưu kế kỳ diệu

Cũng là chưa thấy xưa nay

(Đại Cáo Bình Ngô)

 

Qua đó ta thấy tấm lòng nhân đức  thương quí dân của ông. Một mặt ông vừa giúp vua bình định xã tắc một mặt ông vừa giúp dân, vỗ về an ủi họ. Đó là nội dung tiến bộ của tư tưởng “hạ trạch dân” của ông.

 

6. Nỗi niềm tâm sự

 

Ngày xưa Trâu Dương có nói: “Nữ vô mỹ ác nhập cung kiến đố. Sĩ vô hiền bất tiếu nhập triều kiến tật” (Con gái không cứ đẹp xấu đã vào cung là có sự ghen tuông. Kẻ sĩ giỏi hay không đã vào triều là có sự ghen ghét). Huống chi tiên sinh vào triều, công danh lại lên đến tột đỉnh thì càng có nhiều người ghen ghét hơn. Mọi sự đố kỵ dèm pha luôn luôn rình rập bên mình. Nếu ông không khéo cẩn thận thì cũng dễ mất chức và tù tội. Nguyễn Công Trứ cũng bị dèm pha mà cả đời long đong lận đận khi lên khi xuống. Nguyễn Công Trứ phải ngán ngẫm cho sự đời:

 

Nghe như chọc ruột tai làm điếc

Giận đã căm gan miệng mỉm cười

 

Và ông còn nguyện: “Kiếp sau xin chớ làm người”. Trương Đăng Quế đã bao lần thoát khỏi sự tranh chấp, dèm pha. Trong hai lần phụng mệnh di chiếu để tôn tân quân, Lần một, ông phụng mệnh di chiếu của vua Minh Mạng để tôn vua Thiệu Trị. Đó là lần suôn sẻ. Riêng lần hai, phụng mệnh di chiếu của vua Thiệu Trị, ông cùng với các triều thần tôn Tự Đức lên ngôi vua mới thật gay go. Các sách lịch sử gọi đây là “một biến cố cung đình”. Theo di chiếu ông đã mạnh dạn gạt Hồng Bảo con trưởng để Hồng Nhậm  (Tự Đức) lên nối ngôi. Hồng Bảo uất ức “nói với mọi người rằng ông ta đã bị cướp ngôi, ông cũng vui lòng vì chính em trai ông được lên ngôi chứ không phải là ai khác. Ông chỉ  muốn làm vua dù chỉ một ngày để moi gan ông Quế”.[1]

 

Một việc khác, theo Đại Nam chính biên liệt truyện thuật lại năm 1849: “Nhà của công chúa An Mỹ bị mất cắp. Quân cảnh vệ ở kinh thành tố cáo Nguyễn Tân thành viên nội các là đồng lõa và đồng thời tố cáo Lê Mậu Hanh thuộc đội thị vệ đã để bọn trộm trốn thoát dù biết rõ chúng là tội phạm. Bộ Hình báo chuyện ấy lên đức vua bằng lời lẽ không rõ ràng. Quế cho rằng cần cách chức Tân và Mậu Hanh và giao cho nhà cầm quyền tra xét. Quỹ tố cáo sự can thiệp của Quế vào vụ này vượt quá quyền hạn của phụ chánh đại thần. Nhưng Tự Đức bảo vệ Quế trước sự tố cáo của Bùi Quỹ”.[2]

Trên đây là hai trong hằng trăm vụ việc mà tiên sinh phải đối phó. Sau vụ Bùi Quỹ ông đệ đơn xin thôi chức phụ chính đại thần với lời lẽ: “Các quan ngự sử tố cáo chúng thần lạm quyền, các tỉnh thần nghi ngờ chúng thần trấn áp, các cộng sự ở triều khuyên chúng thần không nên giữ cương vị này quá lâu và sẽ trách chúng thần tham quyền cố vị”[3]

 

Tự Đức lên ngôi được hai năm, ông bắt đầu xin về hưu. Lần1 (1850) vua Tự Đức phê trẫm muốn dùng cận thần, khanh hãy ở lại. Lần 2 (1855) vua Tự Đức phê không người thay thế. Lần 3 (1860), lần 4 (1862), Tự Đức cũng không cho. Lần 5 (1863) vua Tự Đức lại không ưng thuận và phán “Khanh tuổi già mà trí tuệ còn giỏi... Cái kiến thức mạnh mẽ tinh tường ấy, bọn hậu tiến không thể kịp được”[4]. Lần thứ 6, tháng ba Quí Hợi 1863 tiên sinh 71 tuổi lại xin thì mới được về hưu.

 

Sống trong hoàn cảnh như vậy, ông luôn luôn làm việc cẩn trọng và cố giữ mình “Khi tại chức, phong thái của tiên sinh lúc nào cũng có vẻ nghiêm trang ung dung nhàn nhã, sắc mặt, giọng nói chẳng hề xao xuyến từ việc to tát khó khăn cho đến việc vướng vít tỉ mỉ đều giải quyết ra lẽ”[5]. Ông cũng không tham quyền cố vị, không tham muốn công danh phú quí:

 

Phú quí bất túc mô

Chấp tiên hà sở cầu

(Tạp hứng 3)

 

Dịch:

Phú quí không làm ta thích

Hà tất phải cầu làm kẻ cầm roi

 

Từ năm 57 tuổi ông đã chán ngán cảnh quan trường và nhất quyết xin về hưu để vui thú điền viên. Nhiều lần xin mà không được chấp thuận, ông đâm ra bực bội:

 

Thù ân vị liễu thời

Nhật mộ tăng sầu tịch

(Giang hồ hoài cựu du) 

 

Dịch:

Báo ân đến bao giờ mới hết

Trời chiều tăng thêm buồn

 

Ông chán cuộc đời làm quan nhưng lại phải làm nên điều đó đối với ông là cái hận:

Khởi vi thăng đấu lụy

Lưu hận thử thân danh

(Xuân nhật thư hòai) 

 

Dịch:

Đẩu thăng phiền lụy há theo

Chuốc sầu gây hận đến điều thân danh

         

Sống trong cảnh nghi kỵ, dòm ngó, ông vẫn giữ một mực với lối sống:

 

Ngô phi hảo du nhân

Khai khẩu triếp đạo hảo

(Tạp hứng 6)

 

Dịch:

Ta chẳng phải kẻ xu nịnh

Mở miệng ra là cái gì cũng tốt

 

Vì chán ngán công danh và cũng không theo bè phái nên càng ngày tiên sinh càng cảm thấy cô đơn bất lực

 

Nhân bất hiền dữ bỉ

Xuất môn tranh sở đầu

Tê tê nhất chích thân

Mưu chi vị hữu trù

(Tạp hứng 3)

 

Dịch:

Người hiền ở với kẻ dữ

Ra cửa là tranh nhau

Ta một mình vò võ

Mưu chước được gì đâu

(Huỳnh Châu dịch)

 

Trong bài Giang hồ hoài cựu du sau khi chiêm ngưỡng cảnh đẹp thiên nhiên, ông liên hệ đến cuộc đời làm quan của mình và than

 

Cố ngã du hoạn trung

Phong trần thượng vi khách

(Ngó lại cuộc đời làm quan của ta vẫn hãy còn là khách phong trần). Nhiều khi muốn quên đi tất cả ông đã dùng đến rượu. Ông tự động viên mình uống, uống cho thật say để khỏi phải tỉnh

 

Hữu tửu, hữu tửu

Châm chi, chước chi

Chúng nhân giai túy

Ngã tỉnh hà vi?

(Hữu tửu)

Dịch:

Có rượu, có rượu

Rót đi, uống đi

Mọi người say cả

Ta tỉnh làm gì?

(Trần văn Thận dịch)

 

Nhưng rượu không phải là lối thoát duy nhất để giải thoát khỏi buồn phiền, tiên sinh tìm đến mộng tưởng. Nếu ngày xưa Lý Bạch đã xem đời là một giấc mộng lớn và nói:

 

Xử  thế nhược đại mộng

Hồ vi lao kỳ sinh

 

Thì nay Trương Đăng Quế với tâm trạng chán chường cho số phận phù sinh và trò đời biến dịch đã dành cho tâm hồn mình những phút bay về Bồng Lai tiên cảnh đầy tưởng tượng

 

Tích mộng du tiên đô

Cao níp Bồng Lai đảo

Thượng hữu chúng tiên nữ

Minh mâu tín mỹ giảo

Trung y giáng tiêu nhân

Dữ ngã tối thân hảo

Thượng khủng cách tiên trần

Dư tình mạc năng đạo

 

Dịch:

Xưa mộng chơi cõi tiên

Cao xa trên đảo Bồng Lai

Trên đó có nhiều tiên nữ

Mắt sáng vẻ đẹp rực rỡ

Trong đám quần áo đó có người mặc áo đỏ

Với ta là rất thân

Thường lo tiên và trần xa cách

Mối tình này làm sao nói được

(Trần Văn Thận dịch)

 

 

 

 



[1] Đại Nam chính biên liệt truyện, tập 2 quyển 21 tờ 10a. Dẫn theo Nước Đại Nam đối diện với Pháp và Trung Hoa, Sđd  trang 207.

[2] Nước Đại Nam đối diện với Pháp và Trung Hoa, Sđd  trang 189.

[3] Nước Đại Nam đối diện với Pháp và Trung Hoa, Sđd  trang 207.

[4] Đại Nam chính biên liệt truyện,  Viện Sử học, NXB Thuận Hóa 1993 trang 412.

[5] Thần Đạo Bi Minh –Tuy Lý Vương.

Trương Quang Cảm
Số lần đọc: 1046
Ngày đăng: 29.04.2010
[ Trở lại ] [ Tiếp ]
In tác phẩm Góp ý Gửi cho bạn
Cùng thể loại
Vào Việt Nam (1533-1659), Công Giáo đã gửi Những Giáo Sĩ Trách Nhiệm - Trần Văn Cảnh
Nhà văn Nguyễn Khắc Phê trả lời bạn đọc Văn nghệ Trẻ -2 - Nguyễn Khắc Phê
Thái sư, Tuy Thạnh Quận công Trương Đăng Quế -2 - Trương Quang Cảm
Nhà văn Nguyễn Khắc Phê trả lời bạn đọc Văn nghệ Trẻ - Nguyễn Khắc Phê
Chất Dân Gian trong Thơ Nôm Nguyễn Khuyến - Trần Minh Thương
Góp thêm một cách hiểu về thơ nhìn từ thông diễn học hiện đại - Ngô Phương Quốc
Nhìn từ năm 2009, một số căn bệnh văn chương - Khánh Phương
Hữu Loan: nếu chiều mưa một cây đàn ghi-ta - Nguyễn Đức Tùng
Rượu Đế Trong Dân Gian Tây Nam Bộ Dưới Góc Nhìn Văn Hóa - Bùi Tuý Phượng
Để vinh danh truyện Kiều - Khải Nguyên