Ủng hộ VCV
Số tác phẩm
22.672 tác phẩm
2.589 tác giả
122
77.740.332
 
Tình và xuân trong thơ linh Lân xứ võ
Lâm Bích Thủy

Từ trước tới nay, nói về “thơ tình” hay “mùa xuân” thì người ta chỉ nhắc tới Hàn Mặc Tử, Nguyễn Bính, Xuân Diệu, Xuân Quỳnh ... chứ mấy ai biết đến tình và xuân trong thơ linh Lân tức Yến Lan của Bàn Thành tứ hữu của miền đất vang lừng thế võ.

 

Ai đâu biết, có bao nhiêu suối tình và xuân trong thơ của nhà thơ Yến Lan. Những con suối tình đã âm thầm chảy không ngừng nghĩ, bền bỉ, dạt dào cho tình yêu quê hương và mùa xuân của nhân loại trong thơ Yến Lan. Đầu năm đến với thơ tình và xuân của Yến Lan để rung động trước vẻ đẹp của non sông đất nước và tình người cũng là để nhà thơ dắt ta đi qua cuộc hành trình nhân thế với những nét tế vi của cuộc sống.

 

Đề tài về tình yêu văn học nhân loại “nhiều như sao trên trời, như cát dưới biển” Đặc biệt là thơ mới 1930-1945 luôn choáng ngợp trong mọi cung bậc của tình yêu. Người ta cho rằng “Thơ Yến Lan không nằm ngoài qui luật đó. Nhưng thơ tình Yến Lan với cái riêng trong phong cách đã cho ra đời nhiều bài thơ tuyệt tác.” Đóng góp của ông trong mảng đề tài này là cái chất riêng khó gặp ở phong cách thơ khác cùng thời. Hoài Thanh trong “Thi nhân Việt Nam” từng đánh giá thơ Yến Lan “có cái không khí là lạ nhưng nhẹ nhàng dễ khiến người ta thích.”

Sắc xuân và tình yêu của linh Lân như những con suối âm thầm chảy cả một đời thơ:

 

Mây mãi sa đà đình núi cao

Chim say tổ ấm chẳng rời nhau

Nếu không ngọn suối ra sông lớn

Một chút tình quê biết gửi đâu”

Ơn suối

 

Thật vậy, nếu tình yêu trong thơ Xuân Diệu được nhận định “Vừa có cái cao khiết của tâm hồn vừa có cái cường tráng lành mạnh của nhục thể” thì tình yêu trong thơ Yến Lan rất chân thật trong cảm xúc bởi được bao phủ lớp sương khói bàng bạc, huyền diệu, thơ mộng. Cảnh vật, con người được ông tả hết sức bình thường nhưng được nhà thơ phủ lên không gian thơ một lớp sương khói của thời gian.

 

Ai về xóm Cửi năm năm trườc

Đều thấy em ngồi dệt đoạn tơ

Quanh em vàng tựa trời gieo xuống

Vàng ở trong màu xuân lắm thơ

Vàng

 

Hình ảnh đẹp của cô thôn nữ đang ngồi quay tơ, dệt vải bình thường nhưng hình ảnh bình thường ấy của cuộc sống được nhà thơ vẻ đậm nét huyền diệu. Người đọc được chìm trong không gian vàng huyền hoặc, nhẹ nhàng và thơ mộng

 

Không biết tự bao giờ, nỗi buồn đã đi vào thơ ca, trải dằng dặc theo cuộc sống nhân loại. Với Nguyễn Du đó là nỗi đau của đời: Trong “Kiều”

       

Trải qua một cuộc bể dâu

Những điều trông thấy mà đau đớn lòng

 

Còn nữ sĩ Xuân Hương là nỗi buồn, ngán ngẫm cho duyên phận không trọn vẹn như mong ước (Tự tình)

 

Ngán nỗi xuân đi, xuân lại lại

Mảnh tình san sẽ tí con con

 

Xuân Diệu thì ngẫn ngơ buồn vì cô đơn bơ vơ, ngay trên mảnh đất quê hương

 

Hôm nay trời nhẹ lên cao

Tôi buồn không hiểu vì sao tôi buồn

Hàn Mặc Tử thì tái tê:

Thân tàn ma dại đi rồi

Rầu rầu nước mắt bời bời ruột gan

(Muôn năm sầu thảm)

 

Với tính cách hiền hòa, kín đáo và tế nhị, thơ tình Yến Lan không thể hiện sự đòi hỏi của ham muốn mãnh liệt. Cả với nỗi buồn phải chờ đợi mỏi mòn Yến Lan cũng trải nó ra man mát:

 

Lầm lũi em đi chẳng nói năng

Vắng em anh cũng thắt buồng gan

Gần nhau hay phải xa nhau mãi

Mặt biển tình ta dải thẳng băng

Cam chịu

 

Tình yêu trong thơ ông dù dang dở, song không phải “Tình chỉ đẹp khi còn dang dở/Đời mất vui khi đã vẹn câu thề” (Hồ Dzếch), bởi cái triết lý rất nhẹ nhàng mà thâm thúy của ông về qui luật cuộc đời:

 

Cái triết lý về thời điểm hạnh phúc cứ theo mãi kiếp người, dằn vặt, trăn trở. Cảm nhận về tình yêu thì nhẹ nhàng, trong sáng nhưng lại khắc khoải khôn nguôi

 

Em đi, ngày tháng biệt mùi tăm

Kén đã luân sinh mấy kiếp tằm

Một mảnh hồn ta còn đọng mãi

Trên vành nong úa sắc thời gian

(Mùa xuân này lạnh lắm em ơi)

 

Viết về tình yêu, Yến Lan thường mượn hình ảnh ẩn dụ “Thuyền và bến”. Đó là hình ảnh trở đi trở lại như một bài ca dao, nhưng thơ Yến Lan vẫn rất mới, mới ở thể thơ, ở cảm hứng thơ. Không hoảng loạn như Hàn Mặc Tử, không đắm say, cuồng nhiệt như Xuân Diệu, không kỳ bí như Chế Lan Viên; Yến Lan cứ nhẹ nhàng, từ tốn, giản dị như cuộc sống. Nhưng cuộc sống vẫn luôn vận động, biến chuyển với cái triết lý riêng của nó. Đó là nỗi buồn về những cuộc tình dang dở, là nỗi khát khao được yêu âm thầm mà mãnh liệt, là niềm tự hào được sống, được là tinh hoa và được liên đới với bao kiếp người:

 

Ta đang sống vì có người đã chết

Hồn kết tinh bằng bao nhớ thương xưa

Đời lớn nhanh và mạnh như bẹ dừa

Tôi là cả tinh hoa muôn thế kỷ

Sống phút sống của hàng ngàn thi sĩ

Mơ giờ mơ của bao cửa không gian

Mơ hồn xuân như đã mở thiên đàng

Tôi sống khỏe và hoa hồn độ nở

Những giọt bông hường

 

Tình yêu đôi lứa trong thơ Yến Lan không dữ dội, cuồng nhiệt mà đằm thắm, thiết tha lắm!

Vì với tình tôi phải nhẹ nhàng

 

Phải là ý ngọc, phải tim vàng

Phải là trọn vẹn, là trong sáng

Là một bài thơ khắc chữ nàng

(Đồng nội hồn tôi)

 

Còn thứ tình nào mảnh liệt hơn thế khi dòng trường giang không còn cuộn sóng và lòng người trở thành một bến đò của dĩ vãng, của ngàn năm đợi:

 

Em đi bờ bãi cũng theo đi

Sóng lặng trường giang trải phẳng lì

Từ ấy lòng anh làm cố độ

Câu thơ chờ đợi hóa chòm si

(Cố độ)

 

Quê hương trong mỗi người là sự mặc định của số phận. Người ta có thể có nhiều vợ, nhiều chồng nhưng quê mỗi người chỉ một mà thôi. Chính vì triết lý rất đời ấy, tình quê của Yến Lan không bao giờ đổi thay, không bao giờ chối bỏ.

 

Sống đời nô lệ, bị áp bức thơ ông thể hiện trạng thái “đau, ngơ ngẩn, sầu muộn, quặn mình, nức nở” đến tái tê trong “Bình Định vào năm 1935”.

 

Nhánh tòng bá có đau vì xứ sở

Chớ quặn mình thêm nức nở hồn tôi

Không được sống xin cho cùng được thở

Vạn lý tình trong gió ngọt xa xôi

 

Bao đời nay, thi sĩ yêu trăng trong thế bị động, vầng trăng là đối tượng để yêu để được say đắm thở than. Không hiểu sao, chỉ riêng Bình Định quê tôi, vầng trăng lại phát ra thứ ánh sáng đến diệu kỳ, lạ lẫm, để các thi sĩ sinh ra trên dải đất này đều bị ám ảnh. Thứ ánh sáng kỳ ảo đó, với Hàn, trăng ở xa đến vậy mà ông đã sở hữu được  để rồi: “Ai mua trăng tôi bán trăng cho” Ông say ánh trăng như ma cà rồng say máu:

 

Gió rít tầng cao trăng ngã ngữa

Vỡ tan thành vũng đọng vàng khô

Ta nằm trong vũng trăng đêm ấy

Sáng dậy điên cuồng mửa máu ra

Say trăng

 

Ánh trăng trong thơ Xuân Diệu, thường gợi một không gian rộng đến choáng ngợp như một sự đối lập với nỗi cô đơn, nhỏ bé của con người:

 

Trong vườn đêm ấy nhiều trăng quá

Ánh sáng tuôn đầy các lối đi

………

Trăng sáng , trăng xa, trăng rộng quá

Hai người, nhưng chẳng bớt bơ vơ

 

Với Yến Lan trăng là chủ động, trăng ấp ủ, nó như chất vi lượng bồi bổ cho cơ thể:

 

Trăng đi từ tóc đi vào máu

Như sữa tuôn dòng chảy khắp thân

Tôi yêu trăng quá, mê trăng quá

Như má yêu môi, đến đến gần

(trích)    Bệnh trăng

 

Bởi vì chỉ có mình ông được ánh trăng vây phủ, bao bọc nâng niu vỗ về khi ông vừa lọt lòng mẹ trên bãi cát vàng dưới ánh trăng “Tôi lọt lòng ra giữa bãi trăng.. Từ đó ánh trăng là tình yêu là cội nguồn  Cho nên có hệ lụy là:

 

Từ thuở lên hai đã yêu trăng

Đã bồng đã ấp, đã nâng niu

Ban ngày tôi ngủ trong lòng mẹ

Lại ngủ trong trăng lúc tắt chiều.

 (trích) Bệnh trăng

 

Yến Lan đã nhẹ nhàng, đỉnh đạt bước vào làng thơ cùng “Bến My Lăng” với hình ảnh ông lái đò u buồn đợi khách trên bến sông đầy trăng huyền ảo, ánh trăng chạy dọc theo thời gian và chiếu sáng lung linh như một nhân chứng lạnh lùng chờ đợi khắc khoải suốt bao năm, mãi đây vẫn còn ám ảnh lòng khách thơ.

 

Khi dòng thơ mới chiếm lĩnh trên văn đàn, các thi sĩ thi nhau làm thơ tình yêu. Thơ tình Xuân Diệu thật giản đơn và hời hợt “Đố ai định nghĩa được chữ yêu” Không ai trả lời nên ông giải bày tiếp “Có khó gì đâu một buổi chiều/Gặp người con gái ngây thơ ấy/Rồi thương, rồi nhớ thế là yêu” Có lẽ tình yêu quá đơn giản như thế nên cuối cùng cuộc tình của ông không trọn bề.

 

Tình yêu đôi lứa mấy ai đong, đo, đếm, diễn tả được, cho dù muôn vạn chiếc máy tính siêu hiện đại. Thời gian, mọi thứ trở nên bất lực nhưng tình yêu trong thơ Yến Lan thì không, nó trở thành vĩnh cữu……..

 

Dồn lên thành thạch nhũ

Lớp phấn -đá - tình - em

Cuồn cuộn như bão tố

Cơn gió lộng hồn anh

Thời gian vút mủi tên

Em kể gì năm tháng

Tảng thạch nhũ tan ra

Bên gối người sấp mặt

Cơn bảo cũng chan hòa

Con suối tình dào dạt

 

Tình yêu của nhà thơ thật giản dị, hạnh phúc khi cuộc sống thanh bình ở một vùng quê, lúc ông cháu dạo chợ ngày Tết cổ truyền khiến ông trở nên tươi trẻ hơn

 

Ta đến hàng đồ chơi

Ngựa gỗ chen gà đất

Xem nghệ nhân vẽ vời

Có đậm màu dân tộc

Ta đến hàng sứ, sành

Chọn bình hoa chậu kiểng

Vui còn chú môn sinh

Đem biếu chùm lan biển

Sắc màu mùa xuân, hương vị Tết tràn ngập trong thơ ông mặc dù xuân nhà ông đến muộn hơn:

 

Vụng sắm cành đào không kịp tết

Ra giêng chợt hé một vài bông

Xuân người lả tả bay đi hết

Ngoảnh lại xuân ta mới chớm hồng .

Xuân muộn

 

Ngoài sắc xuân, tình đời, tình người nhà thơ không ước mơ gì lớn, ông chỉ chọn cho mình cái quí hơn - đó là tình người :

 

Mơ một mùa xuân đẹp

Tình đời rộng bao la

Chớ vin nhà chật hẹp

Cổng khép người lại qua

 

Thơ tình của Yến Lan thể hiện sự mạnh mẽ, nhưng tha thiết và nồng nàn. Thế mà đến giờ tôi chưa nghe ai nhắc một câu thơ tình nào của ông. Tiếc thật!...

Lâm Bích Thủy
Số lần đọc: 965
Ngày đăng: 01.01.2012
[ Trở lại ] [ Tiếp ]
In tác phẩm Góp ý Gửi cho bạn
Cùng thể loại
Phân giai cấp qua khẩu vị - Lê Hải*
Lê Thánh Thư Viết Trong Bóng Tối - Vũ Trọng Quang
Nhớ lại ý nghĩa Thi Ca của Cổ Nhân: Đọc tập thơ Kinh Vô Thường của nhà thơ Võ Thạnh Văn - Nguyễn Đăng Trúc
Chạm Bóng – Chạm Vào Cõi Nhân Sinh - Trần Hoài Anh
Ngoảnh Lại 15 Năm... - Hoàng Hưng
Để Có Thể Ăn Xà Bông ! - Nguyễn Đông Nhật
Lý Luận - Phê Bình Trong Ngòi Bút Trần Hoài Anh - Lê Tú Anh
Lời Tiên Tri Của Giọt Sương – bản hợp xướng với những tấu âm lạ... - Nguyễn Hữu Tình
Phiên Bản Của Một Nỗi Buồn - Lê Huỳnh Lâm
Giấc Mơ Trên Bọt Sóng - Nguyễn Đông Nhật
Cùng một tác giả
Tình lên ngơ ngác (truyện ngắn)
Chàng Ngốc (truyện ngắn)
Thư cảm ơn (sự kiện)