Ủng hộ VCV
Số tác phẩm
22.117 tác phẩm
2.571 tác giả
133
74.376.366
 
Nguồn gốc ca nhạc tuồng chèo cải lương 11
Tuấn Giang

Chương II

 

MỐI QUAN HỆ LÀN, ĐIỆU, BÀI BẢN, HƠI CẢI LƯƠNG

 

1. Sự hình thành, ra đời các làn điệu, bài bản:

Ngay những buổi đầu dựng nước, nhân dân ta đã tạo dựng một đời sống văn hoá tinh thần nguồn cội, đó là đạo lý, ý thức cộng đồng các dân tộc. Từng bước xây dựng đời sống kinh tế, xã hội, văn hoá tinh thần, có lối sống văn hoá ứng xử để lại cho đời sau: “Chung lưng đấu cật, uống nước nhớ nguồn, một cây làm chẳng nên non”…Là lối sống nhân nghĩa, hợp quần, đạo lý đoàn kết trở thành ý thức cộng đồng. Qua đấu tranh để tồn tại trước thiên nhiên, xã hội, đầy gian khổ, hy sinh xương máu, đem lại cho mỗi người những bài học giá trị tinh thần: tình yêu quê hương, yêu con người, nhân nghĩa, thuỷ chung. Những tình cảm cao đẹp ấy, là bản lĩnh sức mạnh vươn tới lý tưởng “chết trong hơn sống đục”, thoát khỏi vòng tục luỵ để mình mãi là mình. Một dân tộc từ dựng nước đến hôm nay, không ngừng vươn dậy, sáng tạo ra truyền thống văn hoá, phong phú, đặc sắc của mỗi vùng miền, hợp thành nhân cách con người Việt Nam, bất khuất, kiên cường qua mọi thời đại.

Truyền thống văn hoá Việt Nam là kết tinh của những cái đã mất để còn lại một tinh thần sáng ngời trong lịch sử dựng nước, giữ nước, quá các nền văn minh đất Việt. Những tư liệu lịch sử, khảo cổ học, văn bia, sử sách, trống đồng…từ thời đại đồ đá cũ, đất Việt là một trong những cái nôi của quê hương loài người. Khoa khảo cổ học đã xác nhận người vượn ở Bình Gia, Lạng Sơn, những công cụ đồ đá Núi Đọ, Thanh Hoá…kéo dài từ trung du ven sông Hồng hoang sơ đến miền duyên hải biển Đông. Họ là những bộ lạc nguyên thuỷ, có nền kinh tế thô sơ sống bằng nghề săn bắt, hái lượm của người Việt cổ. Dấu tích con người thị tộc Việt cổ, tìm thấy nhiều nơi từ miền núi trung du, dọc theo ven biển Hạ Long đến Nha Trang, kéo dài tới bán đảo Cà Mau, họ đã để lại những dấu tích trong hang động cả khắp miền đồng bằng Nam Bộ. Những truyền thống văn hoá: văn hoá Đồng Đậu, văn hoá Gò Mun, văn hoá Đông Sơn. Mỗi nền văn hoá là bước phát triển kinh tế, chính trị, xã hội còn lại trong ý thức người xưa, sản sinh ra các hình thức nghệ thuật trong sinh hoạt cộng đồng, lâu ngày thành lề thói, bảo lưu truyền tụng và trên các di vật. Sự hình thành những bầy người nguyên thuỷ có một quá trình tồn tại, tạo dựng ra những thời đại văn hoá. Từ thời đại đồ đá đến đồ đồng thuộc văn hoá Đông Sơn, là giai đoạn rực rỡ của nền văn minh Lạc Việt để lại trong quá trình dựng nước. Những dấu tích trống đồng Đông Sơn trải rộng khắp mọi miền đất nước, kéo dài đến Campuchia, Philippin, Thái Lan, đặc biệt những phát hiện mới vào năm 2001 ở Vân Nam, Trung Quốc…cho thấy những trống đồng Đông Sơn có bản sắc Việt Nam, nhưng lại nói lên luận thuyết ban đầu: Việt Nam là một trong những cái nôi của nền văn minh thế giới, nơi khởi hình nhân loại. Việt Nam có một truyền thống văn hoá, đạo lý Việt Nam, nền văn hoá Đông Sơn là nguồn cội của văn hoá Việt.

Văn hóa Đông Sơn nơi khởi hinh ra loại hình văn nghệ dân gian đã tìm thấy trên các dấu tích trống đồng, đây là nét đặc trưng quan trọng để nghiên cứu xác định các loại hình văn hoá, nghệ thuật nguồn gốc Việt cổ, hình thành từ hình thức diễn xướng dân gian như một nhân chứng lịch sử, là những dấu tích văn hoá, nghệ thuật tin cậy khi nghiên cứu nghệ thuật diễn xướng dân gian. Nghệ thuật diễn xướng dân gian là tiền sân khấu, trải qua bốn giai đoạn phát triển văn hoá: Phùng Nguyên, Đồng Đậu, Gò Mun, Đông Sơn là một quá trình tồn tại trên các mảnh vỡ lịch sử văn hoá vật chất. Song song tồn tại cùng văn hoá vật chất là văn hoá tinh thần còn những đốm sáng trong lịch sử của bốn thời đại văn hoá: bộ lạc nguyên thuỷ, cư dân Văn Lang, Âu Lạc, Hùng Vương. Ngày nay còn lưu truyền nhiều truyện cổ tích, thần thoại từ đời Hồng Bàng, vua Hùng Vương thứ nhất. Lần theo dấu tích văn hoá vật chất, cùng với sự hoạt động văn hoá tinh thần, là những chứng lý về sự ra đời các hình thức văn nghệ dân gian của những bộ lạc nguyên thuỷ từ phản ánh tự nhiên, đến tư duy lãng mạn. Đó là những cảm hứng sáng tác đơn sơ khắc trên đồ đá cũ, đến cấu trúc các truyện cổ tích, thần thoại, là một quá trình phát triển tư duy sáng tạo nghệ thuật. Những truyền thuyết lịch sử như Đẻ trăm trứng, Phù Đổng Thiên Vương, Sơn Tinh Thuỷ Tinh, Nỏ thần An Dương vương, Chử Đồng Tử, Sự tích trầu cau, Thạch Sanh. “Nội dung các truyện cổ tích, thần thoại, phản ánh quá trình dựng nước, hình thành nòi giống, dòng tộc, phong tục tập quán, văn hoá giao tiếp, lối sống nhân cách làm người.

Những truyền thuyết, cổ tích, thần thoại, là bài bản đầu tiên hình thành cấu trúc những tác phẩm văn học dân gian. Từ bài bản ấy, là cái gốc ra đời các hình thức văn nghệ dân gian, phản ánh những hình thức trình diễn văn nghệ dân gian trên trống đồng của thời đại đồ đồng. Từ đó, tìm về cội nguồn văn nghệ dân gian là nghệ thuật diễn xướng dân gian, hình thành từ văn hoá tinh thần cư dân nông nghiệp. Đó là nguồn gốc của các loại hình nghệ thuật. Nghệ thuật diễn xướng dân gian có năm thành tố: văn học, âm nhạc, nhảy múa, người kể chuyện và khán giả. Thành tố đầu tiên hình thành nghệ thuật diễn xướng là âm nhạc, bởi âm nhạc gần với biểu hiện của ngôn ngữ từ tiếng hát, hú, hò, dô…đều có nhịp điệu âm thanh âm nhạc.

Âm nhạc có tính bao trùm, nhịp điệu, tiết tấu, tiếng gõ trên vật thể…khi nói đến nhịp điệu có múa, nên âm nhạc và múa xuất hiện đầu tiên khi còn là bầy người nguyên thuỷ, dậm chân nhảy múa, xua đuổi thú dữ, mừng chiến thắng, ra hiệu đi săn, những biểu hiện tình cảm…là thể hiện nhịp điệu của múa. Múa và âm nhạc, là hai thành tố khởi nguồn một hình thức sinh hoạt văn nghệ múa có hát, hoặc là hét, là một cách bày tỏ diễn kể. Diễn kể bằng ngôn ngữ tiếng nói, bằng động tác, là những phát hiện đầu tiên của diễn xướng, là hạt nhân hình thành trò diễn, diễn xướng. Nhịp điệu múa ra đời làm phong phú nghệ thuật diễn kể, hai thành tố âm nhạc và múa làm lên một phần nghệ thuật diễn kể.

Nghệ thuật diễn kể phát triển kể chuyện tự do, biểu hiện bằng tiếng nói, nhảy múa, mô tả những sự việc diễn ra xung quanh cuộc sống con người nguyên thuỷ. Lúc đầu nghĩ sao nói vậy, thấy gì kể ấy, họ là những bản sao chép của tự nhiên. Nhưng trong quá trình trình diễn, họ có những thay đổi, thấy động tác hay, câu nói, tiếng hát dài có nhịp điệu được người xem hưởng ứng cùng ứng diễn theo, hoặc hò hét đồng tình. Đó là sự khởi hình xuất hiện chủ đề tác phẩm. Từ yêu cầu của người hâm mộ, hoặc của người diễn kể, khi ngôn ngữ phát triển những tiếng hú, lời thoại ngắn cùng những động tác nhại lại sự mô tả câu chuyện thay bằng lời kể chuyện. Có người kể chuyện, là có câu chuyện, chủ đề cốt truyện, nhân vật và người xem, đó là nghệ thuật diễn xướng. Nghệ thuật diễn xướng ra đời từ sau bầy người nguyên thủy, khoảng từ đời vua Hùng thứ nhất. Từ bầy người nguyên thuỷ cư trú trên đất Việt đã có diễn xướng, nhưng đó là giai đoạn hình thành, họ là bản sao của tự nhiên. Khi xuất hiện chủ đề trò diễn, với năm thành tố tham gia vào trò diễn, đó là hình thức diễn xướng dân gian. Trò diễn xướng dân gian tiền sân khấu, có nguồn gốc hình thành từ bầy người nguyên thuỷ xuất hiện diễn xướng dân gian, đến đời Hùng Vương thứ nhất hoàn thiện một hình thức diễn xướng, có năm thành tố nghệ thuật, qua ba giai đoạn hình thành, phát triển.

- Giai đoạn hình thành trình diễn sơ khai, là những yếu tố ngôn ngữ, động tác biểu hiện, tiến lên hình thành bài bản, gọi là trò nhại, bởi họ bắt chước mô tả tự nhiên.

- Giai đoạn ra đời nghệ thuật diễn kể, ban đầu lớp diễn tập thể, chưa có câu truyện, trò diễn. Những hiện tượng ấy, là khởi nguồn của trò diễn, nhưng khi vào lễ hội có ứng diễn, nhảy múa, ca hát, kể chuyện, đến đây xuất hiện vai trò cá nhân. Đó là người kể chuyện, là nghệ thuật độc diễn, từ đó có người xem và phát triển các loại hình nghệ thuật mới nằm trong diễn xướng dân gian.

- Giai đoạn cuối cùng, phát triển các hình thức diễn xướng dân gian, theo tiến trình ra đời các hình thức diễn xướng, nhằm đạt những mục đích khác nhau, xác lập các loại loại diễn xướng riêng.

Ba giai đoạn hình thành, phát triển diễn xướng dân gian, xác định phân loại các hình thức trình diễn, các thể loại diễn xướng: cá nhân, tập thể, lao động, vui chơi, tín ngưỡng, phong tục, luật thiêng… là sự ra đời các hình thức ca, hát, bài bản, theo các loại diễn xướng riêng, đáp ứng các loại công chúng. Đó là nguồn gốc các loại hình nghệ thuật, diễn xướng dân gian, là sự hình thành đầu tiên các thành tố nghệ thuật ca, hát, là những bước phát triển khác nhau của nghệ thuật âm nhạc. Đó là nguồn gốc làn điệu, nguồn gốc hát bài bản. Như vậy nguồn gốc ca có từ lúc xuất hiện ngôn ngữ loài người nguyên thuỷ cùng với các loại làn điệu. Hát là sự phát triển thành giọng điệu trong sự phát triển bài bản của nghệ thuật diễn xướng dân gian. Nghệ thuật hát ra đời hoàn chỉnh nghệ thuật diễn xướng dân gian, khác với lúc hình thành trò nhại, trò diễn bắt chước tự nhiên của người nguyên thuỷ. Đó là nguồn gốc ca, hát, khởi hình trò diễn xướng dân gian trên sân khấu của bầy người nguyên thuỷ, đến chế độ các vua Hùng ra đời các hình thức diễn xướng truyền thuyết, thần thoại, có cấu trúc tư duy lãng mạn. Nghệ thuật diễn xướng dân gian ra đời trong sự tổng hợp kỹ năng ca, hát, còn truyền lại đời sau, hình thành các hình thức nghệ thuật dân tộc, bản địa. Đó là những nhân tố kỹ năng hình thành nghệ thuật ca nhạc sân khấu dân tộc.

1.1. Khái niệm làn, điệu, bài bản, hơi.

Làn điệu là một thuật ngữ nghệ nhân quen gọi cho các điệu hát, làn hát trong một số thể loại sân khấu, thường thấy ở chèo, kịch hát, dân ca. Nhưng trong sân khấu kịch hát không phải chỉ có thế, tất cả sân khấu kịch hát Việt Nam đều có hai hệ thống: làn điệu và bài bản. Dù rằng trong tuồng và cải lương, không ai gọi là làn điệu, nhưng đều có hai hệ thống làn điệu, bài bản với những cấu trúc âm nhạc khác biệt nhau. Trong chèo không ai gọi là bài bản chèo, chỉ gọi là các làn điệu chèo, nhưng ở chèo cũng có hai hệ thống bài bản, làn điệu khác nhau. Những cách gọi ấy, là thói quen của ngôn ngữ như dưới thời bao cấp bước vào mậu dịch bách hoá, họ đề tấm biển: “Nghỉ ăn cơm”. Nếu nghỉ ăn cơm thì phải bán hàng chứ, sao lại ngồi ăn xì xụp với nhau? Thời mở cửa, nhiều báo chí lên tiếng cấm không cho những bảng quảng cáo treo ngang, hoặc ở trên chương trình ca nhạc. Khi nhìn lên bảng lô gô, chỉ thấy còn chương trình ca nhạc là: Kotex Style, chẳng hiểu đó là gì?…Nhưng ai cũng hiểu? Thói quen ngôn ngữ là ký hiệu thông tin, nên nghệ nhân chỉ gọi là làn điệu chèo, mà không gọi làn điệu và bài bản chèo. Không gọi làn điệu và bài bản cải lương mà chỉ gọi bài bản cải lương là đủ. Nhưng các nhà nghiên cứu thì phải rạch ròi khái niệm: bài bản, làn, điệu, là những thuật ngữ khác nhau, không thể là một, có phân biệt rõ nguồn gốc thuật ngữ mới xác định bản chất các hình thức âm nhạc sân khấu dân tộc.

Thuật ngữ làn điệu từ điển tiếng Việt thông dụng trang 381, làn điệu (of a song).

- “Lối hát riêng đặc trưng cho từng thể loại dân ca”. Thuật ngữ làn nhiều người bàn tới, có người nói khá sáng tỏ, có người nêu ra lại lẫn lộn, mẫu thuẫn với chính mình. Bằng nhiều cách dẫn giải đã thấy, làn, điệu, bài bản là những thuật ngữ có những khái niệm khác nhau. Nhạc sĩ Đôn Truyền trong cuốn “Đến với nhạc chèo”, do Viện Sân khấu phát hành năm 2001, tác giả lý giải về làn, điệu chèo từ trang 19 đến 24 để giải thích làn, điệu. Ông viết: “…Đó chính là hơi nhạc (air musica) được gọi là làn. Làn không định hình trong một thể cố định. Có thể ví làn như một chất lỏng, không có hình dáng, khi đựng vào cái chén thì có hình cái chén; khi đựng vào cái chai thì có hình cái chai. Làn theo khổ thơ mà hát lên, thơ dài thì hát dài, thơ ngắn thì hát ngắn. Cấu trúc của thơ theo thể lục bát, tứ tuyệt hoặc các dạng biến thể thì đàn cũng thích ứng theo…Làn là sản phẩm của nghệ thuật ứng tác, ứng diễn tự do theo phương thức dân gian. Điệu cũng lấy từ chất làn những cấu trúc chặt chẽ, định hình nghiêm chỉnh, có xử dụng kỹ thuật cao hơn. Có khi dùng điệu vào hát “bàn” (đồng ca) để tả bối cảnh, để bình luận, giới thiệu, nhấn mạnh vào sự việc nào đó. Có khi dùng điệu cho đơn ca để mô tả tâm trạng, tính cách nhân vật.

Phần trích dẫn trên, tác giả phân biệt rõ sự khác biệt giữa làn và điệu, nói thì dài nhưng quy tụ lại, làn không định hình về giai điệu âm nhạc, còn điệu định hình âm nhạc, có cấu trúc chặt chẽ nhịp, phách, diễn tả ý tưởng chủ đề bằng âm nhạc. Tác giả đã ví von: “Làn thì theo sát lời thơ (ở đây thơ là chị, nhạc là em). Điệu khác với làn ở chỗ nhấn mạnh vai trò âm nhạc hơn (nhạc là chị, thơ là em)”. Qua phân tích của tác giả chưa chỉ rõ làn, điệu do nghệ nhân để lại, là vốn ca hát chèo cổ, hay do nhạc sĩ thời nay soạn ra? Nếu nhạc sĩ thời nay soạn ra có nên gọi là làn, điệu không? Nhiều nhạc sĩ, tác giả soạn chèo có vẻ thống nhất với nhau: gọi những sáng tác mới là “làn, điệu chèo mới”. Tác giả Đôn Truyền coi làn, điệu là danh từ riêng như tên gọi các bài bản cải lương: Vọng cổ, Văn Thiên Trường…hoặc như các điệu chèo cổ: Sắp qua cầu, Đường trường, Lới lơ…nên đã viết hoa tên gọi Làn và Điệu. Nhưng theo quan niệm nghệ nhân : làn, điệu không phải là tên gọi riêng chỉ một làn, một điệu hát. Làn là chỉ nhiều bài ca ngâm, có giai điệu âm nhạc nhưng chưa định hình, cấu trúc chặt chẽ nhịp, phách như điệu. Còn điệu có giai điệu định hình như những ca khúc, chữ điệu là danh từ chỉ chung cho các loại bài có cấu trúc âm nhạc chặt chẽ. Do đó, làn, điệu là danh từ chung không phải viết hoa, như tên riêng của các điệu chèo. Vì là danh từ chung, nên các nghệ nhân quan niệm làn là những hình thức ngâm thơ, nói thơ, kể hạnh, ngâm kể, nói xử, nói lối…Những hình thức âm nhạc này, gọi là làn, còn những điệu hát trở thành bài hát ca nhạc cổ là hệ thống các điệu: hát sắp có cổ phong, qua cầu, chợt…hệ thống các điệu đường trường có: Đường trường trong rừng, Đường trường duyên phận, Đường trường chông chênh…Những người làm chèo cổ con quan niệm điệu, có điệu chuyên dùng, điệu đa dùng. Điệu chuyên dùng là những điệu hát tính cách, dành riêng cho những nhân vật có cá tính như điệu Con gà rừng, hoặc Hát xuôi hát ngược, hay điệu của các vai hài, thày bói…Còn những điệu đa dùng là hát chung cho mọi người, hoặc nhiều vai xử dụng đến khi có hoàn cảnh thích hợp như các điệu sắp, đường trường, hát Vỡ nước…Từ quan niệm cổ nhân đã định hình các làn, điệu chèo cho các vở chèo cổ, không có sáng tác thêm các làn điệu mới. Tuy nhiên, quá trình phát triển chèo cổ, các nghệ nhân đã sáng tác ra các làn, điệu chèo, nhưng đến khi ra đời sân khấu chèo từ dân gian đến chèo Nguyễn Đình Nghị đã định hình số lượng làn, điệu cho một hình thức sân khấu chèo. Chỉ từ ngày đề ra cách tân chèo cổ, các nhạc sĩ mới nhảy ào ào vào sáng tác bài hát trong các vở chèo mới, thậm chí có những vở chèo cổ cũng cách tân, sáng tác làn, điệu mới, nhưng hướng thử nghiệm ấy không thành công. Nguyên nhân, các nghệ sĩ chèo xưa họ sáng tác làn, điệu mới vào chèo theo phương thức dân gian (phương thức dân gian là truyền miệng), mỗi người sáng tạo một chút, người nọ truyền lại người kia, lâu ngày mới hoàn chỉnh thành một điệu ra nhập chung vào các điệu hát chèo. Còn các nhạc sĩ ngày nay, sáng tác theo phương thức tư duy cấu trúc âm nhạc phương Tây, chỉ mượn âm điệu các làn, điệu chèo cổ để xây dựng chủ đề giai điệu, cấu trúc cho bài hát của mình giống âm hưởng làn, điệu chèo, hoặc mang hơi hướng chèo. Có bài hát gần giống một điệu chèo, có bài là ca hát mới, những hình thức sáng tác ấy, không hoà nhập vào vốn làn, điệu chèo làm sao lại gọi là những điệu chèo mới? Theo quan niệm cổ nhân, khi một làn điệu chèo được gọi là làn điệu, phải xử dụng trong nhiều vở như hệ thống có sẵn của các làn điệu chèo cổ. Những hiện tượng sáng tác các ca khúc mới vào các vở chèo cổ chưa có, hoặc hiếm có một bài hát được “kết nạp”, “gia nhập hội” những làn, điệu chèo cổ. Một thí dụ điển hình là cố tác giả Tào Mạt, người làm chèo nghệ nhân cuối cùng của thế kỷ XX, ông sáng tác những bài hát mới vào các vở chèo Bộ ba bài ca giữ nước, nhưng những bài ấy cũng không được “kết nạp” vào vốn làn, điệu chèo cổ. Bởi chỉ có những vở trong bộ ba vở chèo của ông hát, đến những vở khác không ai xử dụng nữa. Muốn chuyển thể, hoặc viết những vở chèo mới, các tác giả kịch bản chèo chỉ xử dụng vốn làn điệu chèo cổ đặt bài ca cho vở mới. Nhiều nhạc sĩ sáng tác 10 bài, 19 bài cho một vở chèo mới, khi vở diễn xếp xó, những bài hát ấy chỉ còn ý nghĩa thanh toán tiền nhuận bút là người viết giỏi, viết nhiều ca khúc mới mà thôi. Những bài hát của các nhạc sĩ làm chèo mới tính từ năm 1956 đến nay, chưa có sáng tác mới nào được “gia nhập hội” những làn, điệu chèo cổ của một hình thức ca hát sân khấu chèo. Do đó, không thể gọi những sáng tác mới của các nhạc sĩ là làn, điệu chèo mới, hãy gọi là những sáng tác ca khúc, hoặc những bài hát mới cho các vở chèo mới.

Trở lại quan niệm làn điệu của kịch hát dân tộc, cổ nhân xác định khái niệm rõ ràng làn là những giai điệu âm nhạc chưa định hình, các làn cải lương gần như chèo, đó là loại: ngâm thơ, nói thơ, nói dặm, nói lối, nối đếm, lẩy Kiều, ngâm thơ Lục Vân Tiên, nói thơ Nam Bộ…Những hình thức âm nhạc này, nằm ngoài bài bản cải lương, trong cải lương cổ nhân không gọi là làn điệu cải lương, họ chỉ có một tên gọi là bài bản cải lương. Nên trong vốn bài bản cải lương lại không có hình thức âm nhạc kể trên, những hình thức ấy nằm ngoài bài bản, nên các nghệ nhân thường nói bẻ làn, nắn điệu. Theo quan niệm cải lương có khái niệm về điệu, gọi là điệu như điệu Vọng cổ, Vọng Kim Lang, các điệu lý…Nghĩa là quan niệm bài bản và điệu giống nhau về cấu trúc âm nhạc có giai điệu giống một bài hát, không ở thể tự do như làn.

Giới cải lương mượn chữ điệu từ những điệu lý, dân ca Nam Bộ. Chữ điệu để phân biệt với bài bản, đây là sự khác nhau giữa điệu và bài bản. Điệu là các điệu lý, du nhập vào vốn ca nhạc cải lương từ năm 1920 đến nay. Chữ điệu trong cải lương xử dụng rộng rãi là nhập các điệu hát mới như các điệu lý dân ca Bắc – Trung – Nam, các điệu dân ca không chỉ có lý. Vốn ca nhạc dân gian, là những bài dân ca, đều gọi là điệu. Điệu khác với bài bản, điệu chỉ những bài dân ca vào cải lương. Bài bản cải lương là vốn bài bản cố định như ba Nam, bốn Oán, bảy Ngự…đó là vốn bài bản cải lương. Những cách gọi tên, xử dụng thuật ngữ của cổ nhân đã thống nhất những quan niệm: làn là những loại ca ngâm không định hình, nhịp phách, cấu trúc âm nhạc, còn điệu, và bài bản có cấu trúc định hình giai điệu âm nhạc như những ca khúc, có câu đoạn rõ ràng.

Quan niệm hơi nhạc, không phải là làn, bởi hơi nhạc theo cách gọi của cổ nhân là hệ thống những bài bản, làn, điệu có chung một màu âm, tiết điệu gần nhau gọi là cùng một hơi. Trong ca nhạc cải lương, các nghệ nhân quan niệm có các hơi: Xuân, Ai, Bắc, Oán những bản hơi xuân có Nam Xuân, Đào ngũ cung…Hơi Bắc: những bản Bắc như Lưu thuỷ, Xuân tình, Phú lục, Tây Thi,…Từ quan niệm ấy, nhìn sang chèo, có thể gọi hơi theo quan niệm thời nay như vở ấy có hơi chèo, vở kịch ấy có hơi cải lương. Ông sáng tác bản nhạc này có hơi nhạc nhẹ, có hơi tuồng, hơi dân ca…đó là quan niệm cách gọi bao trùm, ý nghĩa của thuật ngữ hơi. Còn trong chèo, cổ nhân chèo không xếp loại các hơi chèo, nhưng các cụ không quan niệm hơi là làn, bởi làn là danh từ chung, hơi cũng là danh từ chung, nhưng về khái niệm và tên gọi hai thuật ngữ hoàn toàn khác nhau. Làn là chỉ những hình thức âm nhạc, ca ngâm, nói “ chưa định hình giai điệu âm nhạc, còn hơi lại chỉ cái e chung màu âm của những bài bản, những điệu, cả làn, có màu âm giống nhau, gọi là hơi. Thuật ngữ làn trong từ điển là: Of a song, còn hơi là A little, a whit pht. Một chút ít hơi. Chuyện mang hơi hướng thần thoại (trích trang 336, sách đã dẫn). Như sách Từ điển Tiếng Việt đã chỉ rõ hai khái niệm làn và hơi, là hai thuật ngữ khác nhau. Làn chỉ là lối hát riêng đặc trưng cho từng thể loại dân ca, còn hơi là “hơi hướng” như “có hơi hướng người thành thị”. Qua những ví dụ ấy, đã thấy làn và hơi là hai khái niệm khác nhau không thể gọi làn là hơi như ông Đôn Truyền quan niệm. Những dẫn giải về làn, điệu, bài bản đã xác nhận là những thuật ngữ khác nhau, vì làn là những loại ca ngâm không có giai điệu rõ ràng. Nhạc sĩ Tú Ngọc đã vẽ ra sơ đồ làn có giai điệu âm nhạc là loại “Làn điệu để chỉ những trổ hát, những đoạn hát, những bài bản mang phong cách hát, ngâm…Về bản chất giai điệu, hát ngâm là loại giai điệu nhạc, vận hành theo kiểu đường sóng, liên tục, gắn với dạng tiết tấu không nhịp (không khuôn nhịp)[1]. Nhận định của Tú Ngọc làm sáng tỏ làn là loại âm nhạc không có nhịp, tức là gạch nhịp trong khuôn nhạc, còn nói là không có nhịp cũng không đúng, bởi lẽ tự nhiên

trong cuộc sống cái gì cũng có nhịp. Tầu hoả chạy cũng có nhịp mạnh, nhịp nhẹ, máy nổ cũng có nhịp, người đi bộ cũng có nhịp, khi nói chuyện trong ngữ điệu đã có nhịp. Nhịp tạo ra bởi thời gian của các âm, nên làm gì đều có nhịp. Nhịp có nhịp mạnh, nhịp nhẹ, trong âm nhạc gọi là phách, do đó làn vẫn có nhịp, các hình thức ngâm thơ nói lối…đều có nhịp, nhưng do cách ngân nga, nhấn, láy của các âm, tạo ra độ dài ngắn khác nhau, không thể phân nhịp theo kiểu gạch nhịp như một bài hát. Ông Tú Ngọc đã mở vòng đơn chữ khuôn nhịp là đúng. Đây là dạng âm nhạc tự do, có tính tự sự, mỗi lúc nói một khác, ngân một khác, nếu gạch nhịp sẽ làm mất đi cái hay của người diễn kể. Hình thức âm nhạc này, là dấu tích duy nhất của âm nhạc dân gian tồn tại trong các hình thức kịch hát, tuồng, chèo, cải lương. Vì làn và điệu là tên gọi hai hình thức âm nhạc, cấu trúc hình thức khác nhau, nghệ nhân mới nói kẻ làn, nắn điệu. Làn thì bẻ được, bởi giai điệu của làn hết sức tự do, nó là nét hình sóng, nên có thể bẻ cong sang cái khác, bởi nó không có khuôn nhịp mới bẻ từ ngâm sang hát một làn điệu chèo nào đó. Còn điệu không bẻ được, nếu bẻ cong đi, hoặc gẫy theo một điệu khác là phá vỡ khuôn nhịp, phá vỡ giai điệu của điệu, làm hỏng điệu hát. Nên điệu chỉ nắn chữ, nắn âm cho hợp với giai điệu âm nhạc đã quy định cố định trong điệu hát. Trong những điệu cải lương, điệu Vọng cổ là một loại nắn điệu, trong nói lối, trong hát Vọng cổ xử dụng kỹ thuật nắn điệu để hát từ Vọng cổ qua các điệu lý, sang ca khúc mới. Vì thế, cần phân biệt bẻ làn, nắn điệu là kỹ thuật ca, hát của sân khấu dân tộc, làm sai những nguyên lý bẻ lan, nắn điệu là làm hỏng vốn bài bản, làn điệu ca nhạc sân khấu kịch hát.

Những quan niệm: làn, điệu, bài bản, hơi, là những thuật ngữ chỉ những hình thức âm nhạc khác nhau, không thể lẫn lộn, cái nọ như cái kia. Những thuật ngữ nghệ nhân xử dụng trong sân khấu truyền thống, mỗi thuật ngữ có một ý nghĩa riêng, làn khác điệu, bài bản khác ca ngâm, hơi khác làn, kẻ làn khác điệu…Có tìm về nguồn gốc của thuật ngữ mới hiểu đúng bản chất đặc trưng các hình thức ca nhạc sân khấu, từ đó mới có hướng sáng tạo đúng sự phát triển sân khấu dân tộc. Nhạc sĩ Đôn Truyền đã sai lầm ở trang 20, sách đã dẫn, ông viết: “…Hơi nhạc/air…, được gọi là làn”. Những dẫn giải về các khái niệm thuật ngữ đã đưa ra các tiêu chí tương đối cụ thể về ý nghĩa mỗi thuật ngữ: làn là một hình thức âm nhạc không có khuôn nhịp, phát triển theo hình sóng, phụ thuộc vào thơ ca và người diễn kể. Điệu là thuật ngữ thường xử dụng trong hát chèo, điệu là những bài có cấu trúc giai điệu trong những khuôn nhịp, là những bài ngắn, khoảng bốn đến tám câu nhạc. Bài bản xử dụng trong cải lương, không gọi là điệu, hoặc ít gọi, bởi bài bản có cấu trúc giai điệu, khuôn nhịp bài bản riêng, mỗi bài bản dài từ tám đến hai mươi câu nhạc, có bài dài tới bốn mươi, năm mươi câu như: Nam ai, Tứ đại oán, Phụng hoàng, Giang nam…có bài là bài bản, vừa là điệu như bài Vọng cổ…Bài Vọng cổ có ba tố chất làn, điệu, bài bản, bởi sự cấu trúc âm nhạc lúc là ca, ngâm, khi là hát, lúc là bài bản, đó là sự đặc biệt trong âm nhạc bài Vọng cổ. Còn tiêu chí của hơi nhạc được xác định ở phương pháp tư duy nhạc cổ truyền. Lớp nghệ sĩ nhạc tài tử, sáng tác những bài bản mới dựa theo hơi nhạc từ một bài hơi Oán, sáng tác tiếp thành sáu bài Oán… Hơi có thể chuyển đổi từ hơi Oán sang hơi Quảng mà dàn nhạc cải lương từng hoà tấu dàn nhạc pha hơi Quảng và nhiều hơi khác, đây là một phương pháp hoà tấu dàn nhạc cải lương ở những năm cải lương diễn kịch bản Tầu

Hơi là âm hưởng, hình tượng âm nhạc có tính thực tiễn sáng tác, biểu diễn bài bản ca nhạc tài tử, cải lương theo các hơi : Xuân, Ai, Bắc, Oán, tạo thành hệ thống bài bản ca nhạc tài tử, cải lương. Hiểu đúng thuật ngữ biểu hiện khái niệm, là những rắc rối trong ca nhạc dân tộc, nếu không làm sáng tỏ, nhiều nhà lý luận còn lẫn lộn thuật ngữ. Sự lẫn lộn ấy, dẫn đến hiểu sai phương pháp tư duy sáng tác, biểu diễn, ca nhạc dân tộc, nên cần có những tiêu chí tương đối để xác định khái niệm thuật ngữ: làn, điệu, bài bản, hơi nhạc… là những khái niệm khoa học, nguồn gốc ca nhạc truyền thống Việt Nam.

 1.2. Mô hình lòng bản,  làn, điệu, bài bản cải lương.

Sự giáo dục âm nhạc nước ta bị nô lệ nền âm nhạc phương Tây, nhạc Trung Hoa, tuy nhiên, nền âm nhạc nào văn minh, đồ sộ, chúng ta đều học hỏi, nhưng không thể quá đề cao nhạc nước ngoài đến tự ti về nhạc Việt. Nền văn hoá âm nhạc nhân loại từng bị nền âm nhạc mạnh hơn thống trị dưới thời trung cổ, nền âm nhạc kéo dài từ cổ Hy Lạp đến La Mã, hàng chục thế kỷ tiếp nối tới cổ điển, lãng mạn và cận đại, đưa âm nhạc châu Âu độc chiếm toàn thế giới. Nhưng sang thời hiện đại, vai trò âm nhạc châu Âu không còn là lý tưởng của các dòng âm nhạc hiện đại. Những nhà lý luận âm nhạc toàn thế giới lại tìm kiếm những điều mới lạ chưa được, hoặc ít được biết tới bởi mỗi dân tộc, mỗi dòng nhạc đều có hệ thống riêng. Những hệ thống âm nhạc riêng ấy, là quá trình lịch sử tạo dựng ra từ trí tuệ của bao thế hệ dân tộc. Mọi người đã tìm đến những hệ thống ít người được biết đến, không còn thái độ kỳ thị xem nền âm nhạc này nhỏ, nên âm nhạc kia lớn, văn minh hơn…Trong lịch sử văn hoá nhân loại không có nền văn minh dân tộc này thấp hơn dân tộc kia, nên muốn tìm hiểu một nền âm nhạc của một dân tộc, một hình thức sân khấu, cần nghiên cứu hệ thống cấu thành các nền văn hoá, âm nhạc, nghệ thuật. Khi nghiên cứu sự hình thành và phát triển ca nhạc cải lương, là tìm về nguồn gốc, sự cấu thành dòng âm nhạc cải lương.

Những phần trên, làm sáng tỏ các khái niệm thuật ngữ, nguồn gốc hình thành các loại ca, hát, dàn nhạc tài tử, dàn nhạc cải lương, các mô hình phát triển, những đặc điểm kỹ thuật ca, hát, dàn nhạc cải lương. Nhưng có một thành tố quan trọng có tính quyết định, định hình một hình thức ca nhạc tài tử, cải lương chưa nói tới. Hình thức ấy, tạo thành hơi nhạc, tạo thành làn điệu… của ca nhạc cải lương. Đó là lòng bản trong các bài bản từ ca nhạc tài tử đến cải lương. Lòng bản là một thuật ngữ nghệ nhân thường xử dụng, một danh từ Hán nôm đến nay quen tai như là ngôn ngữ Việt thường dùng. Theo Từ điển tiếng Việt trang 35, chữ bản là đơn vị cư dân, bản là tờ giấy, bản là bản vẽ và bản gốc…Chữ bản mà nghệ nhân xử dụng với chữ lòng có thể bắt đầu từ hai nghĩa là bài bản và cái bên trong, cái lõi. Theo Từ điển tiếng Việt trang 407, lòng có nhiều nghĩa: 1. Những bộ phận trong bụng. 2. Bụng của con người. 3. Bụng con người biểu trưng tình cảm. 4. Lòng sông, lòng bàn tay, xanh vỏ đỏ lòng. Những thuật ngữ lòng là chỉ cái bên trong một hiện tượng, sự vật nào đó. Do đấy, có thể hiểu thuật ngữ lòng bản là cái lõi bên trong của một giai điệu âm nhạc. Trên một bản nhạc có nhiều âm giai cấu thành, nhưng có âm gốc (gọi là âm chủ), âm cơ bản, không thể thiếu được. Nếu thiếu những âm đó không còn là giai điệu một bản nhạc, nên thuật ngữ lòng bản là chỉ những âm gốc, âm ruột, (âm chính) của một bài bản âm nhạc. Những âm ấy, liên kết thành các quãng giai điệu, tạo ra mô hình lòng bản, đó là âm nhạc mô hình trong ca nhạc tài tử, cải lương. Khái niệm lòng bản, là bản gốc. Ngày xưa, cổ nhân chỉ chép những nốt nhạc lòng bản bằng chữ nhạc có gạch nhịp, sau đó người đàn, ca thêm rất nhiều nốt xoay quanh những âm lòng bản ấy. Đó là âm nhạc mô hình, âm nhạc mô hình xây dựng trên trục âm thanh lòng bản và phát triển quanh trục âm thanh ấy, tạo mô hình giai điệu bài bản âm nhạc. Thuật ngữ mô hình không có trong quan niệm nghệ nhân, các nhà nghiên cứu âm nhạc sau này đặt tên cho sự phát triển âm nhạc ấy theo lý thuyết mô hình như H0àng Châu ký, Mịch Quang, đặc biệt có một công trình khoa học công phu, sâu sắc của Thế Bảo lấy tên đề tài: Lòng bản – Yếu tố mô hình trong âm nhạc truyền thống Việt Nam. Công trình đã trình bày lý thuyết mô hình, thực tiễn các loại mô hình trong âm nhạc. Thuật ngữ mô hình, ngày nay xử dụng phổ biến trong các ngành sản xuất, mô hình đồ chơi trẻ em, mô hình nhà ở, mô hình ô tô, máy bay…Khái niệm mô hình có mô hình hình thức, mô hình khoa học, đây là hai loại thiết kế mô hình khác nhau. Một loại mô hình mô phỏng cái có thực trong đời sống, là các loại đồ chơi cho người lớn, trẻ em. Một loại mô hình khoa học là những cái có thực, có giá trị xử dụng, nếu làm giả không thể xử dụng được như mô hình ô tô, máy bay…là kiểu dáng chế tạo theo mẫu để vận hành vào cuộc sống, hoặc các mô hình nghiên cứu khoa học. Nghiên cứu âm nhạc mô hình là công nhận thực tiễn sáng tác, biểu diễn của ca nhạc tài tử, cải lương, nhưng làm để bảo tồn mô hình âm nhạc dân tộc trong phát triển ca nhạc cải lương trước cuộc sống mới. Vì thế, nghiên cứu âm nhạc mô hình là khoa học nghiên cứu hiện đại, áp dụng vào nghiên cứu âm nhạc dân tộc, tìm ra những cái riêng, chung của ca nhạc cải lương trong sự phát triển sân khấu cải lương.

Sự phát triển mô hình trong cuộc sống đến mô hình giai điệu ca nhạc, là những khoảng cách không thể so sánh được, nhưng trong ca nhạc lại xuất hiện những loại mô hình riêng cấu trúc của từng loại âm nhạc. Dựa vào âm nhạc mô hình, người ca, người diễn tấu dàn nhạc cải lương chỉ cần thay đổi âm tựa, đã biến đổi hơi nhạc từ buồn sang vui và ngược lại. Sự chuyển hoá những âm cơ bản trong mô hình giai điệu âm nhạc, làm cầu nối liên kết giữa các bài bản, làn điệu với nhau, là sự gắn kết các hình thức ca nhạc của sân khấu cải lương.

Mô hình là một giai điệu bài bản, làn điệu cải lương chỉ cần ghi bằng chữ nhạc: hò xự xang xê cống…bằng những gạch nhịp để người ca theo tên các bài bản gạch nhịp nội, nhịp ngoại…ta có một mô hình giai điệu bài hát. Có thể vẽ lên nét giai điệu ấy, theo hình sóng thông qua cái cụ thể từng chữ nhạc, biểu thị các âm khu cao thấp, còn trường độ dài ngắn là phần gạch nhịp vào chữ nhạc. Qua đó, mô hình có thể xử lý theo hai phương pháp: một là chỉ ghi đường nét giai điệu không có nhịp, hai là ghi cả đường nét lẫn nhịp phách theo bài bản. Từ mô hình chữ nhạc, hoàn toàn chuyển thành âm nhạc bản phổ năm dòng kẻ để phổ biến các loại bản bản ca nhạc cải lương.

Dựa vào lòng bản vẽ lên mô hình bài bản có hai loại: một loại mô hình bài bản, làn, điệu giai điệu cho ca bằng mô hình lòng bản, hai loại mô hình lòng bản giai điệu cho dàn nhạc hoà tấu. Nghệ thuật ca, hoà tấu dàn nhạc đều dựa vào mô hình lòng bản để biến hoá từ âm cơ bản đến âm thêm, lướt, luyến láy, xoay quanh lòng bản, tạo ra sự phong phú kỹ thuật ca, hát, hoà tấu dàn nhạc và diễn tấu cá nhân các loại đàn: ghi ta lõm, cò, kìm…

Nghiên cứu âm nhạc mô hình là những phát minh mới, công nhận sự phát triển ca nhạc, mô hình của nghệ nhân để vẽ lên những nét chủ đạo của mô hình cấu trúc bài bản, làn điệu ca nhạc cải lương. Đó là những hình thức biểu hiện giai điệu ca nhạc cải lương, qua quá trình hình thành, phát triển từ chữ nhạc chuyển thành ghi nhạc năm dòng kẻ. Nghiên cứu cấu trúc mô hình giai điệu, lòng bản các bài bản ca nhạc cải lương là xác lập các tiêu chí, phong cách bài bản, biểu thị qua hơi nhạc. Hơi nhạc cấu trúc từ âm gốc trong mối quan hệ phát triển từ âm chủ đến các âm cơ bản, tạo thành mô hình giai điệu, bài bản, làn điệu cải lương. Mô hình làn điệu cải lương là các hình thức ca, ngâm, nói thơ, nói dặn, nói lối…là loại mô hình giai điệu không có nhịp. Mô hình điệu là loại giai điệu có chủ đề âm nhạc, có câu đoạn rõ ràng nhưng ngắn, đó là các điệu lý, các bài dân ca. Loại mô hình điệu, có lòng bản gẫy gõn, tuỳ theo từng loại dân ca du nhập vào cải lương có loại ba âm, bốn, năm âm, bẩy âm…Mô hình loại bài bản cải lương là những bài dài, có mô hình âm nhạc rõ ràng trong cấu trúc lòng bản giai điệu cơ bản. Nhưng những loại mô hình bài bản có cấu trúc giai điệu phong phú, dài về câu nhịp cả tiết tấu. Mỗi hình thức ca nhạc cải lương từ làn, điệu đến bài bản đều vẽ ra những mô hình giai điệu trên lòng bản, biểu thị bằng mô hình, hoặc chuyển thành nhạc năm dòng để ca và hoà tấu dàn nhạc. Nghiên cứu biểu thị âm nhạc mô hình, là thể hiện hình dáng một bản nhạc có tính khoa học trên bản phổ, tiến đến quốc tế hoá ngôn ngữ âm nhạc. Người nước ngoài nhìn vào mô hình bản nhạc đều hoà tấu, ca được, tuy nhiên không thể phong phú bằng các diễn viên, nghệ nhân, nhưng ít ra họ cũng nhận diện được một hình thức âm nhạc. Nền âm nhạc dân gian toàn nhân loại đều phát triển trên cơ sở lòng bản, mô hình, từ mô hình sáng tạo ra những âm điệu mới. Mô hình, bài bản, làn, điệu ca nhạc cải lương là sự phát triển âm nhạc truyền thống, từ đó sáng tạo mới là sự hoà nhập truyền thống với hiện đại trong sự phát triển của ca nhạc mô hình.

1.3. Cấu trúc thang âm, điệu thức, làn điệu, bài bản cải lương.

Mô hình cấu trúc lòng bản, làn, điệu, bài bản đã trình bày hình dáng giai điệu các loại ca nhạc cải lương, nhưng đó chỉ là cấu trúc hình thức, còn cái ruột chỉ rõ tên gọi các hình thức ca nhạc cải lương lại nằm ở phần thang âm, điệu thức. Thang âm, điệu thức là sự sống còn của hơi nhạc, của phong cách các loại ca nhạc cải lương, nhạc đàn ca, nhạc sân khấu kịch hát Việt Nam. Đó là bản sắc phong cách nhạc truyền thống Việt Nam. Các nhà nghiên cứu âm nhạc hiện đại, đang lao vào những hình thức âm nhạc dân tộc bản địa, họ quên mất dòng âm nhạc châu Âu từng làm bá chủ thế giới. Nhiều nhà nghiên cứu ghi từng thước băng xương máu đến các bộ lạc dân tộc châu Phi, châu Á, bởi họ tìm thấy những tinh thần văn hoá vô giá. Những tiếng hát các nghệ nhân cuối cùng của một dân tộc được ghi bằng những thổ âm hoang dã, cổ đại để được thấy một dòng âm nhạc xa xưa. Các nhà nghiên cứu âm nhạc Việt Nam đã chạy theo trào lưu ấy từ thập kỷ 90, xuất hiện nhiều nhà nghiên cứu trẻ đi sâu khám phá các hình thức ca nhạc tuồng, chèo, cải lương. Trên thế giới đã xuất hiện hai trào lưu nghiên cứu âm nhạc, một phương pháp nghiên cứu âm nhạc học (musicology), ngay phương pháp nghiên cứu này cũng có những phương pháp khác nhau khi tiếp cận đối tượng nghiên cứu, nhưng vẫn đi sâu phân tích tác phẩm âm nhạc mà cấu trúc thang âm, điệu thức là một mục đích khám phá khoa học. Còn phương pháp nghiên cứu dân tộc âm nhạc học (Ethno musicologye) là một bộ môn nghiên cứu mới lạ ở nước ta, bởi phương pháp nghiên cứu này đặt môi trường âm nhạc trong bối cảnh xã hội học. Các nhà nghiên cứu phải có vốn văn hoá, tri thức tổng hợp từ khoa học tự nhiên đến các chuyên ngành khác, sự hiểu biết sâu sắc các tôn giáo, phong tục, tập quán dân tộc, khảo cổ học, âm thanh, tin học…đây là một yêu cầu cao của người nghiên cứu mong rằng giới âm nhạc trẻ Việt Nam có thể thực hiện trong tương lai. Vì muốn nghiên cứu toàn diện vốn ca nhạc truyền thống Việt Nam, cần nhiều phương pháp nghiên cứu để tìm đến một chân lý khoa học nhằm bảo tồn vốn dân ca cổ nhạc dân tộc. Sau đổi mới, đất nước ta mới có điều kiện giúp các nhà nghiên cứu đi sâu vào những giá trị văn hoá tinh thần, đặc biệt là âm nhạc và sân khấu dân tộc, nhưng còn nhiều thiếu sót ngày trong giới nghiên cứu là những người thẩm định các công trình khoa học để đem đến cho đất nước những giá trị khoa học. Từ lâu các nước trên thế giới hết sức quan tâm coi trọng bảo lưu những giá trị văn hoá dân tộc, từ giới sáng tác đến nghiên cứu hết sức quan tâm âm nhạc cổ truyền bằng sáng tác, phổ biến ca nhạc mới trên thang âm, điệu thức nhạc cổ. Phong trào nhạc lãng mạn châu Âu, nhiều nhạc sĩ lấy giai điệu cổ nhạc làm đề tài cho các tác phẩm mới, là một hình thức bảo lưu bằng sự phát triển. Nhiều nhà khoa học đã quan tâm tới âm nhạc giải trí, nhưng là bảo tồn vốn cổ nhạc, năm 1869, ông Charles Coros, người Pháp đầu tiên phát minh ra máy hát. Sau đó, ông Thomas Edison, người Mỹ phát minh ra máy ghi âm, đến năm 1892, ông Berliner phát minh ra đĩa hát thay cho ống đĩa của các nhà phát minh trước. Nhưng đến năm 1918, mới có đĩa hát xuất hiện trên thị trường là công nghệ âm nhạc giải trí mới của loài người, nhưng còn là kỹ thuật bảo lưu các hình thức âm nhạc. Đến ngày nay, những công nghệ hiện đại tin học, các loại ghi âm, đĩa mềm…là những phương tiện chính xác, giúp ta đo định âm thanh, bảo lưu vốn âm nhạc ngày càng có độ chính xác khoa học cao. Đó là sự chuẩn mực xác lập âm thanh, điệu thức các hình thức âm nhạc dân tộc, hiện đại.

Thang âm, điệu thức là những thuật ngữ âm nhạc mọi người xử dụng quen theo cách hiểu cụ thể trình bày trên nhạc bản phổ, muốn biết thang âm cần đọc các giai điệu cơ bản của bản nhạc lên, còn muốn biết điệu thức phải căn cứ vào khoá biểu của bản nhạc. Sau đó, đọc giai điệu lên, dùng phương pháp phân tích kết cấu câu, đoạn, qua cảm giác để xác định điệu thức. Điệu thức là một từ ghép, điệu là giọng điệu của bản nhạc, giọng điệu ấy, là điệu trưởng hay điệu thứ. Điệu thứ mầu âm tối, điệu trưởng mầu âm sáng. Ngay trong một tên gọi đã có hai thuật ngữ, giọng và điệu. Giọng có khác điệu không, lại là một lối xử dụng thuật ngữ theo thói quen giọng = điệu. Chỉ có điệu khi gọi là giọng, người ta hay nghĩ tới giọng hát, còn điệu người ta nghĩ tới điệu thức của bài hát. Nên có những cách gọi khác nhau, có người gọi bài hát này viết trên giọng đô trưởng, có người lại nói bài hát kia viết trên điệu đô trưởng, hoặc gam đô trưởng, cung đô trưởng…Có nhiều tên gọi khác nhau, dù là giọng, điệu, là gam, là cung…nhưng cái ngữ nghĩa cuối cùng xác nhận là bài hát ấy viết ở giọng đô trưởng, điệu thức trưởng…Nhưng vì sao còn gọi là điệu thức? Điệu thức là từ ghép nhịp điệu và khúc thức, một thói quen của tên gọi từ dòng âm nhạc Trung Hoa, nên ta hay ghép từ, chỉ cần điệu là đủ, còn thức là khúc thức của bài hát, nhưng lại đi ghép vào điệu thức thật khó hiểu? Hay đây là cách chơi chữ của những nhà nghiên cứu tiền nhiệm. Còn thang âm, thuật ngữ này có vẻ dân tộc hơn, bởi thang là cái thang của người dân hay leo trèo lên cao. Thang ghép với âm, giống như những bậc thang của âm thanh. Nếu muốn biết thang âm một bài nhạc tài tử, cải lương không phải cứ đọc mà ra. Bí quyết ấy, nằm ở phương pháp tổng hợp để tìm ra thang âm. Thang âm một làn điệu, bài bản là phần giai điệu của bài ca, hát ấy. Muốn biết thang âm một bản nhạc có bao nhiêu âm, chỉ cần ghi toàn bộ các nốt nhạc có trong bài nhạc, xếp theo thang âm trên dòng kẻ của khuông nhạc từ âm thấp nhất đến âm cao nhất. Sau đó, đọc toàn bộ những thang âm đã xắp xếp, lại phải dùng đến cảm nhận cảm giác của tai nghe và trái tim xúc cảm để nhận biết, âm chủ, âm chính nằm trên giai điệu bài nhạc, còn những âm thêu, âm lướt, âm phụ thì bỏ đi. Xếp lại ta sẽ được một thang âm của  bài nhạc. Bài nhạc Bà chúa con cua nhạc chèo, nếu xếp lại có thang âm, năm âm: rề, pha, son, la, đô, rế. Năm âm này nằm trong toàn bộ giai điệu bài Bà chúa con cua, nếu thêm, bới một nốt nào trong thang âm ấy, không phải là thang âm, âm nhạc bài Bà chúa con cua. Còn điệu thức của bài, một số người ghi ở giọng rê thứ, như trên khoá biểu có dấu xi giáng, tính xuống một quãng bốn là giọng pha trưởng, nhưng đọc giai điệu lên lại không phải là pha trưởng, đến đây phải xử dụng cảm giác âm nhạc xem chủ âm hút về đâu. Theo thứ tự thang âm của bài thì chủ âm hút về rê, đây là chủ điệu của bài là điệu thức rê thứ, đó là giọng song song của pha trưởng. Tính xi xuống pha, pha tính xuống quãng ba là điệu rê thứ. Hay bài Lý trăng treo, nằm trong các bài Lý dân ca Nam Bộ, trong những bài giọng vặt cải lương, có thang âm: rề, pha, son, la, đô, rế. Thuộc loại thang âm năm âm. Còn điệu thức của bài Lý trăng treo là điệu rê thứ…Hoặc bài Lý con sáo, có thang âm năm âm: sòn, là, xi, rê, pha, són. Điệu thức bài Lý con sáo là điệu son trưởng, đây là một loại dân ca Nam Bộ, năm trong các điệu lý. Thang âm điệu thức là cấu trúc mô hình đặc biệt tạo ra mầu âm, phong cách, hơi nhạc dân ca các miền. Thang âm, điệu thức là đặc trưng xác định làn điệu, bài bản ca nhạc.

Thang âm là những bậc âm xếp theo nguyên lý từ thấp lên cao của một bài bản, làn, điệu, còn điệu thức là giọng điệu của một bài bản, làn, điệu, nhằm xác định tính chất bài bản khi ca, đàn. Tính chất thang âm, điệu thức liên quan đến hơi nhạc, cái hơi nhạc là đặc trưng của một hoặc một nhóm bài bản, xác định bởi các yếu tố, âm tựa, chữ nhạc (nốt nhạc) thang âm, điệu thức. Nếu người ca, đàn, đổi âm tựa, là đổi thang âm, đổi điệu thức hoặc gần như đổi điệu, trong âm nhạc gọi là chuyển điệu, ly điệu là pha hơi khác không còn giữ nguyên hơi nhạc ban đầu. Bảo vệ hơi, thang âm, điệu thức, là bảo vệ nét giai điệu đặc trưng của một bài bản, hoặc một nhóm làn, điệu, bài bản ca nhạc cải lương và nhạc truyền thống Việt Nam.

Sự hình thành làn, điệu, khởi nguồn từ một hình thức diễn xướng dân gian nguyên thuỷ là các hình thức nói có ngữ điệu, hành động diễn kể, đến thời Hùng Vương thứ nhất, xuất hiện các trò diễn xướng dân gian, ra đời các làn, điệu ca, ngâm, hát. Những hình thức âm nhạc dân gian ấy, là khởi hình của nền ca nhạc dân gian Việt Nam, sau này phát triển thành các hình thức ca nhạc phong tục,  nhạc lễ, nhạc đám, nhạc vui chơi giải trí, nhạc sân khấu. Nhìn ngược lại thời gian, làn, điệu, ca, hát có nguồn gốc lâu đời, từ sinh hoạt văn hoá, lao động, giải trí, ca, hát, diễn kể. Nhưng mỗi một hình thức sân khấu dân tộc lại hình thành theo một thời gian khác nhau, cấu trúc ngôn ngữ nghệ thuật khác nhau, ra đời các làn, điệu, ca, ngâm, hát, nói khác nhau. Có loại khó xác định chính xác thời gian, nhưng dùng phướng pháp quy chiến từ nguồn gốc các loại trò diễn, các thể loại văn học, ca, múa… vẫn xác định được ra đời từ thời đại nào của một hình thức sân khấu. Bằng phương pháp nghiên cứu tổng hợp, dựa vào những phân tích tư liệu khách quan sẽ xác định được các hình thức sân khấu lâu đời của nhân loại và dân tộc. Những hình thức ca, ngân, làn, điệu, khởi hình sớm nhất là ngôn ngữ kỹ thuật đầu tiên hình thành ca - hát, hình thành âm nhạc dân ca các dân tộc, các vùng miền. Sau này tiến lên trò diễn xướng dân gian, ra đời các hình thức sân khấu như một nguyên lý hình thành sân khấu dân tộc. Sân khấu cải lương sinh sau, niên đại còn những người đang sống ở thế kỷ XXI, xác nhận, các hình thức ca, hát, làn, điệu, bài bản do ai sáng tác vẫn còn là nhân chứng nhiều người xác nhận. Nhưng sân khấu cải lương đã không vượt qua sự hình thành từ một trò diễn xướng dân gian, là trò diễn carabộ. Từ carabộ, có bước quá độ tiến lên sân khấu cải lương, không phải tự nhiên ra đời ngay sân khấu cải lương. Nhân sự hình thành, ra đời sân khấu cải lương lại nghĩ tới tuồng, duy có tuồng từ trên trời rơi xuống thành tuồng ngay, thành một hình thức sân khấu kinh điển. Tìm nhiều nguồn tư liệu trong dân gian, sách cổ không thấy tuồng hình thành từ dân gian, trên các văn bia cũng không có. Tuồng không hình thành từng bước như múa rối, chèo, cải lương. Các hình thức nghệ thuật dân tộc của ta còn thấy nhan nhản trong các văn bia, sách cổ, nhưng tuồng thì không. Nếu tìm trong sách cổ chỉ thấy vài dòng nói tuồng là do Lý Nguyên Cát dạy cho dân Bắc phần diễn tuồng. Dù rằng tuồng có tuồng pho, tuồng dân gian, nhưng tuồng pho lại có trước rồi mới đến tuồng dân gian do các nhà nho sáng tác sau này? Không hiểu tuồng hình thành từ đâu mà có, tuồng lại sinh ra ngoài những quy luật phát triển của sân khấu Việt Nam, là từ cung đình xuống dân gian. Còn sân khấu cải lương sinh sau, có nhiều ảnh hưởng tuồng, nhưng làn, điệu không phải hình thành từ thời nguyên thuỷ, cũng không phải từ làn điệu tuồng, mà làn điệu cải lương từ cải cách hát bội. Đầu tiên tạo ra điệu từ hát Nan, hát Khách mà nói có nhịp. Đó là nói lối của cải lương trong trò diễn carabộ. Từ nói lối đến nói dặm, nói thơ, ngâm thơ, ngâm Kiều, lẩy Kiều, ngâm thơ Lục Vân Tiên … là các nghệ nhân Ba Đắc, Ba Đĩnh, …  sáng tác ra  hàng loạt làn cho ca nhạc cải lương. Những làn ấy, là kỹ thuật ca đầu tiên để tiến lên kỹ thuật hát. Giọng ca là ca làn, bởi kỹ thuật nói, ngân, ngân theo nhịp điệu chứ không phải khuôn nhịp, nên hết sức tự do. Kỹ thuật phát âm, lấy hơi, nhả chữ tự nhiên, thô sơ chưa phải kỹ thuật hát, đó là ca làn. Còn hát điệu là hát các điệu dân ca, bắt đầu từ năm 1920, vào cải lương từ đó tiến dần lên hát bài bản, hát tân nhạc. Bài bản sinh sau nhất, các nghệ nhân đàn ca tài tử, cải lương gọi là bài bản. Những sáng tác bài bản của các nhạc công đàn ca tài tử, có cả ca sĩ, tác giả kiêm diễn viên như Mộng Vân, Tư Chơi.. Sáng tác bài bản vào cải lương có từ bài Vọng cổ của ông Sáu Lầu, sau đó đến các bài bản khác. Những bài bản trong cải lương đều có tên người sáng tác, thậm chí có cả năm tháng, nhưng do điều kiện thời gian không tiện thống kê ra. Nhiều nhà tư liệu như Trần Việt Ngữ, Thanh Hiền, Đỗ Dũng, Duy Lân ( tác giả), Trương Bỉnh Tòng … còn giữ tư liệu, chỉ có số ít bài không có tác giả và năm tháng. Làn cải lương ra đời từ năm 1914 đến năm 1918, do cô Ba Đắc, Ba Đĩnh…cũng nhiều diễn viên sáng tác ra trong trò carabộ lên sân khấu cải lương. Điệu do các cô và nhiều nghệ sĩ khác lấy dân ca Nam – Trung Bộ vào cải lương. Còn bài bản do ông Sáu Lầu cùng nhiều người sáng tác vào năm 1920. Bài bản, là những tên gọi để phân biệt những sáng tác với các làn, điệu có trước của ca nhạc cải lương.

 

2. Chức năng, làn, điệu, bài bản hát cải lương.

 

Đặc tính ngôn ngữ ca, hát cải lương có ngôn ngữ âm điệu, tiết tấu riêng biểu hiện nội dung, hình thức làn, điệu, bài bản. Là những hình thức âm nhạc độc lập, xác định hệ thống âm điệu, biến hoá dựa vào âm tựa để có tính độc lập, và sự hoà nhập khi cần thiết. Ngôn ngữ làn, điêu, bài bản, có thang âm, điệu thức riêng đặc trưng từng hình thức, thể loại ca hát.

Ca, hát cải lương, có ba hình thức: làn, điệu, bài bản, cấu trúc thành vốn ca nhạc cải lương là một thể loại âm nhạc sân khấu. Ca nhạc cải lương tạo thành bốn mảng, ca, hát, ca làn, hát điệu, hát bài bản, hát tân nhạc. Bốn mảng âm nhạc khác nhau kể cả bài hát mới, nhưng là một thể thống nhất : ca, hát cải lương, đây là nét đặc biệt của vốn ca nhạc cải lương. Mỗi mảng ca nhạc có tính độc lập, lại có tính hoà nhập, đó là bản sắc cải lương. Những hình thức âm nhạc gọi là làn, có âm thanh giai điệu cấu thành đường nét giai điệu do quan hệ quãng tạo thành làn, không có khuôn nhịp, chỉ có nhịp mạnh, nhẹ, với những âm ngừng nghỉ ngân dài, lên bổng, xuống trầm… Làn là đặc tính ca nhạc cải lương. Đặc tính ca nhạc của làn là nhạc tự sự trữ tình, phổ vào các thể thơ. Có đặc điểm biến hoá linh hoạt, một câu ngâm thơ cải lương có thể phổ vào văn xuôi, thơ, câu nói thường… đều bẻ cong vào làn. Làn biến một câu văn xuôi, câu nói thường thành

một làn trong cải lương. Làn nhạc ấy, muốn ca, ngâm, nói lối, nói thơ đều ngọt mùi, hấp dẫn. Đây là ngôn ngữ đặc trưng của làn. Làn bẻ tất cả các thể thơ, văn xuôi, nói thường thành giai điệu âm nhạc, không có khuôn nhịp, khi ca làm sáng tỏ một âm điệu, màu âm cải lương, hoặc hơi cải lương.Chức năng của làn trong cải lương có vị trí quan trọng làm cầu nối từ những hình thức ca, hát đơn giản nhất, đến nghệ thuật hát phức tạp. Không có làn, không thể biến những lời thoại khô khan, những thể thơ văn biền ngẫu thành giai điệu âm nhạc hấp dẫn. Nhưng chỉ để hấp dẫn người nghe những áng văn thơ khô cứng thành lời ca mùi mẫn, êm tai chưa phải là chức năng quyết định của làn. Làn có ba chức năng:

- Làm cầu nối các hình thức âm nhạc cải lương.

- Tạo mầu âm ca hát chung, thành hơi cải lương

- Biến những áng văn chương thành giai điệu âm nhạc ngọt mùi, hấp dẫn.

Làn là những hình thức âm nhạc đầu tiên tạo ra âm nhạc sân khấu cải lương, thiếu làn sân khấu cải lương như thiếu cấu trúc hoàn chỉnh một ngôi nhà, một hình hài, diện mạo. Làn không được ghi thành bài trong vốn ca nhạc cải lương, không có tên gọi trong ca nhạc cải lương, nhưng kịch bản cải lương nào cũng cần có. Làn xuất hiện từ mở màn đến các đoạn nối trong vở, nối cảnh, nối lớp, nối các nhân vật, nối giữa các xung đột tâm lý, tình huống, tính kịch. … Làn không được giới cải lương xếp loại, đặt tên, nhưng xem cải lương ở đâu cũng gặp làn. Làn có thể xuất hiện ngay mở đầu vở trong hình thức lẩy Kiều, ngâm thơ, hoặc xuất hiện ở những lớp xen giữa gợi cảm trữ tình, hay những hình thức nói lối, nói thơ trước khi hát bài bản… Không có làn không thể liên kết những tình tiết vở diễn thành một mầu âm ca nhạc cải lương. Thiếu làn, kịch bản cải lương sẽ là những miếng ghép vụng về giữa điệu và bài bản, vở diễn  bị kịch nói hoá, hoặc một vở kịch pha hát điệu, hát bài bản cải lương.

Điệu trong hát cải lương, là những điệu lý, lý dân ca các miền, lý mới sáng tác như Lý Mỹ Hưng, Đoản Khúc Lam Giang, Lý Phúc Kiến… Những điệu dân ca các vùng miền, các dân tộc. Khi nội dung kịch bản cho phép, người chuyển thể toàn quyền đưa các điệu dân ca kể cả dân ca nước ngoài, cái tài là sự kết nối bài ca sao cho hấp dẫn, phù hợp nội dung và đặc biệt là tâm lý tình cảm nhân vật. Chức năng của các điệu dân ca là những bài hát ngắn, có tính pha mầu âm nhạc, đôi khi là có những chỗ thay đổi hoàn cảnh tình huống, hoặc tình cảm nhân vật. Điệu là một tiếng nói âm nhạc làm thay đổi màu sắc, không khí vở diễn đôi khi là sự đổi mới trong diễn biến câu chuyện kịch bằng một điệu hát dân ca. Những điệu dân ca vận dụng vào kịch bản cải lương có chức năng:

- Làm sáng tỏ không gian sân khấu một vùng miền

- Gợi tả phong cảnh thiên nhiên, tình cảm nhân vật

- Tạo mầu sắc âm nhạc mới, là điểm nhấn của lớp diễn bằng âm nhạc.

Muốn thành công xử dụng những điệu lý, những điệu dân ca, người viết lời cần chuẩn bị tình cảm, tình huống để nhân vật hát, nếu không điệu chẳng có giá trị, còn làm hại vở diễn. Điệu là một mầu sắc âm nhạc đặc sắc trong hát cải lương, không có điệu vốn ca hát cải lương thật nghèo nàn bi thảm. Điệu làm những bài dân ca tươi sáng, sống động mang hơi thở các vùng miền, làm phong phú vốn ca nhạc cải lương. Điệu làn sống dậy kịch bản sân khấu cải lương những tình cảm mới, cảm xúc âm nhạc mới lạ, là sức sống hiện thực của sân khấu cải lương.

Bài bản là những sáng tác chuyên nghiệp của các nhạc công, diễn viên từ ca nhạc tài tử đến cải lương, sáng tác vào vốn hát tài tử, cải lương. Vì thế, vốn bài bản còn dấu tích nhiều loại bài, có bài thuộc loại buồn oán thán, than vãn, có bài nhạc vui, có bài mang tên các nhân vật kể chuyện tâm sự…Nhưng cái tài của những bài bản sáng tác xưa, là dù viết cho một nhân vật, cho một vở diễn mang tiên riêng, sau này lại hoà vào vốn bài bản cải lương, đây là cái đặc biệt của ca nhạc, các nhạc sĩ ngày nay không ai, hoặc chưa có ai làm được. Trong vốn ca nhạc chèo, Viện Sân khấu có công sưu tầm, thẩm định, lựa chọn khá công phu được mấy trăm bài hát sáng tác mới, gọi chung là làn, điệu chèo mới, nhưng chẳng có làn nào, điệu nào được “gia nhập” vào vốn ca nhạc chèo đã định hình làn, điệu của chèo. Nếu phân biệt rõ thì những sáng tác mới ấy, chỉ là bài hát mới chẳng phải làn, càng không phải điệu. Bởi làn của chèo là những hình thức ca, ngâm, nói thơ, ngâm kệ, ngâm Kiều, ngâm Sổng…còn điệu là những bài sáng tác của cổ nhân thuộc hệ thống các điệu hát chèo, tạo thành những hơi nhạc chèo, như hơi Sắp, hơi Làn thảm, hơi Đường trường…Nhìn lại những sáng tác mới của các nhạc sĩ vào những vở cải lương, hoặc tuồng từ năm 1960 đến nay, chẳng ai sưu tầm làm gì, bởi những bài hát mới ấy không có vị trí trong vốn ca nhạc cải lương, hay tuồng. Không cần làm cái việc “dã tràng xe cát”. Những việc làm ấy, chỉ để tiêu tiền cho hợp lý vào dịp cuối năm, còn giá trị xử dụng rất hiếm. Nhưng những sáng tác mới trong vốn bài bản cải lương, dù là viết riêng cho một nhân vật, một vở diễn có các bài: Văn Thiên Tường, Khổng Minh toạ lầu, Mạnh Lê Quân, Chiêu Quân…đã trở thành vốn ca nhạc cải lương. Nguyên nhân: Những sáng tác ấy, viết theo phương thức sáng tác ca nhạc dân gian, là phương pháp sáng tác phù hợp với hình thức sáng tác có sẵn trong vốn bài bản cải lương. Đó là nói về phương pháp sáng tác phù hợp cách làm, còn phù hợp về cấu trúc hình thức một bài bản. Những bài bản mới phù hợp với vốn bài bản cũ trong hình thức cấu trúc, phương pháp sáng tác, còn phù hợp về hơi nhạc, màu âm, hoà cùng vốn bài bản có sẵn của cải lương. Còn đặc điểm có tính quyết định nữa tuy viết riêng cho một nhân vật, nhưng nội dung âm nhạc lại mang tâm trạng chung, nhân vật nào có hoàn cảnh như thế đều vận dụng vào hát phù hợp. Một bài bản trở thành bài bản của vốn ca nhạc cải lương là phương pháp sáng tác dân gian truyền bằng miệng, phương pháp này khá quan trọng trong hình thức cấu trúc âm nhạc, chung mầu âm, nhịp điệu, nằm trong một hơi cải lương, có chung nội dung tâm trạng nhân vật. Bằng những điều kiện như trên, bài Văn Thiên Tường có hơi Oán, nằm trong hệ thống những bài Oán, tâm trạng tự sự buồn. Bài Chiêu Quân, nằm trong hơi Oán, tâm trạng buồn thương, chia ly…Còn những sáng tác mới của các nhạc sĩ thời nay, dù viết cho các vở tuồng, chèo, cải lương…Không thể hội nhập trong vốn ca nhạc có sẵn của bài bản, chèo, tuồng, cải lương…vì những bài hát mới không có những đặc điểm chung của bài bản, nên không hội nhập vào vốn bài bản có sẵn của các hình thức sân khấu kịch hát. Những sáng tác mới của các nhạc sĩ mãi mãi là những bài hát chỉ nằm ở một vở diễn, không bao giờ là bài bản của vốn ca nhạc sân khấu kịch hát. Bởi những bài hát ấy, còn thiếu những điều kiện hội nhập, những bài bản cải lương do cổ nhân tạo dựng, có chức năng:

- Diễn tả tâm trạng nhân vật.

- Giải quyết những mâu thuẫn, xung đột lớn.

- Là những bài bản chủ đạo trên sân khấu cải lương.

Bài bản của cải lương, có vai trò quan trọng, quyết định đặc trưng ca nhạc cải lương trong mối quan hệ bài bản với làn, điệu.

2. A. Mối quan hệ làn, điệu, bài bản.

Làn điệu, bài bản có mối quan hệ qua lại, chặt chẽ, thống nhất trong kịch bản cải lương. Làn là những khúc nhạc dạo nối làn với điệu. Làn nối với bài bản, làn nối với ca tân nhạc…

Làn, điệu, bài bản quan hệ với nhau trong cấu trúc kịch bản cải lương, là chất bột, hay chất keo nối với bài bản. Vì thế làn chuyển hoá màu âm cùng hơi nhạc kết với điệu hoặc với bài bản. Khi đứng độc lập là làn, thì làn sẽ có âm điệu, hơi nhạc riêng như hơi Sa mạc, hơi lẩy Kiều, hơi ngâm thơ Nam Bộ, nhưng khi kết dính với điệu, bài bản, những hơi ấy chuyển hoá phù hợp với tính chất của điệu và bài bản. Phương thức chuyển hoá bằng cách thay vị trí âm tựa, nhờ chuyển đổi âm tựa, đã chuyển thành các hơi có quan hệ gần nhau, hoặc giống nhau cùng mầu âm. Khi ngâm điệu Sa mạc, để vào ca điệu Lý Con Sáo dân ca Nam Bộ…Người ca sẽ chuyển đổi âm tựa từ sa mạc chuyển sang lối nói thơ, ngâm thơ có làn hơi dân ca Nam Bộ, để bắt vào hát điệu lý nào đó mang màu âm dân ca Nam Bộ. Sự bẻ hơi, chuyển làn có giá trị dẫn cảm xúc nghe ngọt núi hồn nhiên từ hai làn điệu ca nhạc khác hơi, xa lạ thành cùng hơi, cùng điệu, cùng bài bản. Sự ổn định hài hoà tính chất âm nhạc ấy, quyết định tạo ra ở vị trí các âm tựa. Âm tựa của làn, là những bậc âm quan trọng trong mô hình giai điệu. Âm tựa là các âm ngừng nghỉ, ngân dài ở các kết câu, kết đoạn, giữa câu, giữa đoạn hay đầu câu nhạc…Âm tựa là những âm có quan hệ từ âm chủ tới các âm giai ở vị trí chính giai điệu thành làn. Chỉ cần thay đổi một, hai âm của làn là bẻ làn nọ qua làn kia để nhập vào bài bản. Làn và điệu, là những khúc nhạc ngắn, những khúc nhạc ấy có giá trị liên kết với nhau tạo những đoạn nhạc diễn tả sân khấu, đáp ứng yêu cầu kịch bản. Nhờ có làn, điệu, bài bản là những hình thức âm nhạc đặc biệt, liên kết với nhau trong quan hệ như một tác phẩm âm nhạc làm cho sân khấu cải lương có sức hoà nhập với các loại đề tài. Làn, điệu, bài bản trong cải lương có cấu trúc âm nhạc đặc biệt ở sự bẻ làn, nắn điệu khi ca hát, nhờ vào kỹ thuật dân gian ấy đã hoà nhập với các dòng nhạc đương đại và cải lương hoá các dòng nhạc bằng ba thủ pháp kỹ thuật:

- Bẻ làn

- Nắn điệu

- Thay đổi vị trí các âm, tạo tính chất giai điệu mới.

Những thủ pháp kỹ thuật ca hát ấy, tạo thành mối quan hệ chặt chẽ, thống nhất làn - điệu – bài bản.

Làn là những hình thái giai điệu ca cải lương chắp nối mọi lời ca, lời thoại khi cần thiết đáp ứng các trạng thái sân khấu. Điệu chuyển hoá các màu sắc tình cảm, là sự ứng biến linh hoạt của vốn các điệu hát cải lương, tạo sự phong phú khi diễn tả các tình huống sân khấu, tình cảm nhân vật. Bài bản là sự hoàn chỉnh của vốn ca nhạc cải lương, đặc biệt bài Vọng cổ là sự kỳ diệu về diễn tả các tình huống, trạng thái tình cảm nhân vật. Bài Vọng cổ là tổng hợp kỹ thuật ca – hát – nói của ca hát cải lương. Từ ngày có bài Vọng cổ đã trở thành bài hát chủ đạo của vốn làn, điệu, bài bản cải lương. Bài Vọng cổ là bài nhạc đặc trưng ca nhạc cải lương, có tính chất quyết định đến mức không có Vọng cổ bất thành cải lương. Đây là một bản nhạc, hơi nhạc điển hình của ca nhạc cải lương mà các hình thức sân khấu: tuồng chèo, kịch dân ca không thể có. Tuy nhiên, bỏ bài Vọng cổ đi chỉ chắp nối các làn, điệu, bài bản vẫn thành một kịch bản cải lương, đậm đặc chất cải lương, nhưng khi trình diễn, công chúng và cả giới diễn viên sẽ không đồng tình. Bởi đây là một thói quen thưởng thức âm nhạc, ai đi xem cải lương cũng chỉ hào hứng đón câu Vọng cổ xuống hò để cổ vũ người diễn. Diễn viên nào vào vai cũng muốn xin người chuyển thể, đạo diễn cho ca một câu Vọng cổ. Thực tiễn sân khấu gắn kết các diễn viên chính, phụ đều có câu Vọng cổ, còn ai không có coi như mình bị thiệt thòi, không có dịp đến với công chúng.

Vốn ca nhạc cải lương phong phú, có tính chuyển hoá, hoà nhập và riêng biệt, là đặc điểm độc đáo của làn, điệu, bài bản. Làn là hình thức âm nhạc bắc cầu, liên kết các mối quan hệ làn với điệu với bài bản và các hình thức nói, hát, tạo sự nhuần nhuyễn một kịch bản cải lương. Vốn làn, điệu, bài bản cải lương là sự diễn tả đặc tính sân khấu bằng âm nhạc, làm nền tảng hình thành cấu trúc kịch bản, biểu hiện, diễn tả cùng người diễn viên là đặc tính ca nhạc cải lương. Ca nhạc cải lương có mối quan hệ gắn kết truyền thống giữa làn, điệu, bài bản với tính hiện đại là các loại hình nghệ thuật đương đại. Chỉ có vốn bài bản, làn, điệu và nghệ thuật diễn mới hoà nhập, dung nạp được các hình thức nghệ thuật hiện đại nhất của mọi thời đại vào cải lương. Nhờ đó, sân khấu cải lương phát triển khắp mọi miền đất nước.

 

2.2. Mô hình bảo tồn, phát triển.

 

Ca nhạc cải lương có ngôn ngữ đặc trưng là: ngôn ngữ ca nhạc cải lương, không hoà tan, không lẫn với bất cứ hình thức âm nhạc nào, đó là đặc điểm màu âm, thang âm, điệu thức, tiết tấu cải lương. Những nét chung ấy là làn, điệu, bài bản cải lương, mỗi bài là một hình thức cấu trúc âm nhạc khác nhau, biểu hiện nguồn gốc thể loại. Vốn ca nhạc cải lương hình thành từ ca nhạc tài tử lên sân khấu cải lương, tập hợp những hình thức âm nhạc hoàn chỉnh một thể loại sân khấu kịch hát có những bản nhạc sáng tác trở thành bài bản, những bản nhạc Tầu, những bản nhạc tài tử, những điệu lý và làn. Khi sân khấu cải lương phát triển từ năm 1921, đến nay đã khẳng định sự giao lưu, du nhập các hình thức âm nhạc hiện đại vào cải lương là một lẽ tự nhiên. Đây là sự khác biệt của sân khấu cải lương với các hình thức sân khấu khác của nền sân khấu Việt Nam. Sự du nhập các loại hình nghệ thuật mới, đáp ứng công chúng là cần thiết, nhưng phải bảo toàn bản sắc sân khấu cải lương. Quá trình phát triển cải lương đã có những bài học lịch sử, lúc bảo cổ, khi lai căng không còn là cải lương, đi ngược lại truyền thống thẩm mỹ dân tộc. Từ bài học lịch sử trong quá khứ, cần có mô hình bảo tồn, phát triển ca nhạc cải lương trong hiện tại là bảo tồn bản sắc ca nhạc cải lương.

Bản sắc ca nhạc cải lương là character, cái sắc thái riêng, đặc tính, đặc điểm ca nhạc cải lương. Đặc tính ca nhạc cải lương có nguồn gốc hình thành từ mười sáu bản Bắc, ba bản Nam, bốn bản Oán. Những bản nhạc ấy, có đặc trưng hơi là các hơi nhạc cải lương. Những hơi ấy, tạo thành nét đặc trưng thang âm, điệu thức ca nhạc cải lương. Hơi nhạc hình thành từ cấu trúc các bậc âm trong các làn điệu, là các bậc: I, II, III, IV, V. Những bậc âm ấy, tương ứng với các chữ nhạc: Hò, xự, xang, xê, cống. Hò trong bài bản là âm đầu, âm chủ của điệu thức, từ đó, có năm loại hò. Nghệ nhân xếp loại các âm hò: hò nhất, hò nhì, hò tam, hò tứ, hò ngũ. Khi xử dụng những âm hò vào đàn ca là bảo vệ bản sắc ca nhạc cải lương, thường hát ở các âm: hò nhất, hò nhì, hò ngũ hầu như không xử dụng. Vốn bài bải cải lương xây dựng trên các quãng đặc trưng của điệu thức năm âm, thường là các quãng giống nhau trong các giọng, điệu từ I đến V. Đó là các quãng: quãng 3T + 3t + 2T và 3t (3T + 3t + 2T + 3t), hoặc có các quãng: 2T + 3t + 2T + 3t + 2T…Hình thức cấu trúc các quãng âm nhạc trên như 3 trưởng (T) + 3 thứ (t)…có những điệu thức giống nhau, tạo cảm giác âm nhạc như nhau trong ngôn ngữ bài bản đặc trưng của ca nhạc cải lương. Nhờ có những quãng đặc trưng cấu trúc trên thang âm, có âm giống nhau mà khi nghe các bài bản cải lương cứ na ná mầu âm giống nhau, người ngoài nghề khó phân biệt điệu Giang Nam hay Cổ bản, Văn Thiên Tường…Thậm chí nghe câu nói lối, một điệu ngâm thơ Nam Bộ cứ có những âm giống điệu cổ bản, khi người diễn viên ca nối làn để bắt vào bài Cổ bản. Nghĩa là những làn khi hát vào điệu, hoặc bài bản, họ thay đổi âm tựa, đưa âm tựa của bài vào làn nghe cứ lẫn với nhau. Nếu không thay âm tựa, riêng những làn cải lương Nam cũng giống các bài bản ở màu âm. Riêng những bản nhạc Tầu, khi vào cải lương đã Việt hoá, nên có chung thang âm, điệu thức cùng bài bản cải lương. Đặc điểm những bản nhạc Tầu, có các quãng như trong thang âm trên, nhưng thêm âm cống là bậc sáu, trong khi nhạc bài bản cải lương chỉ có năm âm, đây là nét khác biệt của những bản Tầu. Đó là quãng mầu sắc của những bản nhạc Tầu, nếu bỏ quãng đặc trưng ấy, sẽ không còn hơi Quảng của những bản nhạc Tầu. Đây là những bí quyết khi chuyển làn, chuyển hơi, thích có hơi Quảng thêm quãng màu sắc, muốn biến những bản nhạc Tầu thành bài bản cải lương, bỏ quãng mầu sắc đi là được những điều theo ý muốn.

Nhìn lại tổng thể vốn bài bản cải lương là cơ thể chính của sân khấu cải lương có những bản nhạc Tầu, những bản cải lương có các quãng đặc trưng, đặc điểm giống nhau cơ bản trong các bậc âm. Là ngôn ngữ đặc trưng, hội tụ thành những  bài bản cải lương, có chung hơi nhạc là hơi cải lương. Ngôn ngữ hơi nhạc ấy, cấu trúc theo quy luật vận hành các bậc âm của thang âm, điệu thức âm nhạc năm âm Nam Bộ. Riêng những bản nhạc Tầu có sáu âm, âm thứ sáu là âm mầu sắc đặc trưng hơi nhạc Tầu. Phải phân biệt rõ thang âm năm âm Nam Bộ, vì năm âm nhạc Bắc Bộ là nhạc Bắc, năm âm trong làn điệu chèo là nhạc chèo…Nhạc Việt Nam có nhiều loại thang âm từ hai âm đến sáu, bẩy âm, nhưng phổ biến là thang âm nhạc năm âm, nhưng do hình thức xắp xếp các âm trên một thang âm từ quãng mà sinh ra các loại bài bản khác nhau, các vùng miền Bắc – Trung – Nam, có ngôn ngữ âm nhạc khác nhau. Trở lại sự thay đổi cấu trúc bậc âm cơ bản những bản nhạc Tầu qua lối ca biến hoá âm tựa, tạo thành màu âm ca nhạc cải lương, đây là bí quyết thành công của phương pháp cải lương hoá những bài bản khác lạ vào cải lương. Hình thức cải lương hoá các hình thức nghệ thuật đương đại vào cải lương, trở thành phương thức cải lương hoá của nghệ thuật cải lương khi tiếp nhận các hình thức nghệ thuật mới. Sân khấu cải lương có hai bước, một là nếu hình thức nghệ thuật mới có nhiều người hâm mộ quá thì bước thứ nhất tiếp thu nguyên bản, nguyên xi, bước thứ hai mới cải lương hoá. Nhưng có lúc ngay khi tiếp nhận hình thức nghệ thuật mới đã cải lương hoá. Còn thông thường các hình thức nghệ thuật mới vào cải lương bao giờ cũng bị cải lương hoá: cải lương hoá ở phần âm nhạc, cải lương hoá trong kỹ thuật diễn. Hai hình thức cải lương hoá này, là phương thức đặc trưng của sân khấu cải lương qua quá trình tiếp nhận các hình thức nghệ thuật mới, phương thức (Gro Cedaare), là phương pháp, hình thức tiến hành đã giới thiệu hình thức ca thay đổi âm tựa. Đặc trưng ca nhạc cải lương khi ca chuyển âm tựa chuyển mô hình sẽ tạo ra chuyển hơi, chuyển làn, điệu, bài bản trong sự liên kết mối quan hệ bài bản với làn, với điệu, hoặc điệu với làn và bài bản hay bài hát sáng tác đương đại. Bí quyết ấy là: nói hơi nào ca, hát hơi ấy. Âm nhạc mô hình ca hát cải lương là:

- Ngôn ngữ làn.

- Ngôn ngữ điệu.

- Ngôn ngữ bài bản.

 

Ngôn ngữ ấy, là những âm của thang âm, điệu thức, làn, điệu, bài bản cải lương cần bảo tồn:

- Mô hình thang âm bài bản cải lương.

Cần bảo tồn mô hình thang âm các bài bản ca nhạc cải lương, vì bài bản là cơ thể sống của vốn ca nhạc cải lương, chỉ cần bảo tồn vốn bài bản, qua cấu trúc mô hình thang âm là bảo tồn toàn bộ vốn ca nhạc cải lương. Trên sân khấu cải lương vốn bài bản là những hình thức âm nhạc chủ đạo của ca nhạc cải lương, mọi kỹ thuật ca, hát đều nằm ở vốn bài bản mà bài Vọng cổ là tiêu điểm của bài bản. Bảo tồn mô hình thang âm bài bản cải lương, là bảo tồn các bài, các điệu cải lương, vì làn, điệu đều xoay quanh vốn bài bản cải lương, nên cần giữ vững đối tượng chính của ca nhạc cải lương. Bảo tồn mô hình thang âm, bài bản là bảo tồn phương thức cải lương hoá các hình thức ca nhạc mới vào cải lương. Phương thức cải lương hoá bao giờ cũng diễn ra đồng bộ từ ca nhạc đến biểu diễn. Ngôn ngữ biểu diễn đặc trưng của cải lương là bộ. Ra bộ là nghệ thuật diễn những động tác minh hoạ hiện thực cuộc sống có tính mô tả, đi theo điệu bộ cùng ca hát, minh hoạ lời ca bằng động tác tượng hình, ngôn ngữ tượng thanh, tượng hình, là những hình thức diễn đi liền với nhau, là đặc trưng ngôn ngữ diễn cải lương. Ngôn ngữ diễn ấy, diễn ra cùng âm nhạc, nếu âm nhạc tiếp nhận cái mới nguyên xi, nghệ thuật diễn cũng sao y bản chính. Khi âm nhạc cải lương hoá, nghệ thuật diễn cũng biến đổi, biến những hình thức nghệ thuật mới như múa ba lê, nhảy nhịp điệu, hoặc những hành động kịch nói…Những động tác múa, nhưng có tính cải lương, làm nhẹ đi những động tác ba lê, nhảy nhịp điệu, biến những động tác hành động kịch thành ra bộ cải lương, có tính cách điệu cao hơn ngôn ngữ hành động con người thật của kịch nói…

 



[1] Ghi chú:

Hát xoan – trang 161 – Viện Âm nhạc phát hành 1997

 

Tuấn Giang
Số lần đọc: 1162
Ngày đăng: 05.03.2012
[ Trở lại ] [ Tiếp ]
In tác phẩm Góp ý Gửi cho bạn
Cùng thể loại
Nguồn gốc ca nhạc tuồng chèo cải lương 10 - Tuấn Giang
Sống Chụ Son Sao 7 - Nguyễn Khôi
Nguồn gốc ca nhạc tuồng chèo cải lương 12 - hết - Tuấn Giang
Nguồn gốc ca nhạc tuồng chèo cải lương 12 - Tuấn Giang
Nguồn gốc ca nhạc tuồng chèo cải lương 11 - Tuấn Giang
Bài Phú Tặng Vợ - Kha Tiệm Ly
Nguồn gốc ca nhạc tuồng chèo cải lương 10 - Tuấn Giang
Nguồn gốc ca nhạc tuồng chèo cải lương 9 - Tuấn Giang
Sống Chụ Son Sao 6 - Nguyễn Khôi
Sắc Tài Thán Phú - Kha Tiệm Ly
Cùng một tác giả
Đặc trưng xiếc (nghệ thuật)
Thực trạng xiếc. (đối thoại)
Tổng luận ca trù (nghệ thuật)
Hát Cung văn (văn hóa)