Kỷ niệm 10 năm vanchuongviet.org
Ủng hộ VCV
Số tác phẩm
20.189 tác phẩm
2.481 tác giả
306
52.053.913
 
Hồn Việt qua các gương mặt Quảng trong trường ca chân đất của Thanh Thảo
Mai Bá Ấn

 

                                                                                                                   

“Trường ca chân đất” (2012) là trường ca thứ 10 của Thanh Thảo vừa làm nên cú hat-tríc 2012: Giải thưởng của Ủy ban toàn quốc Liên hiệp các Hội VHNT Việt Nam, Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam và Giải thưởng Hội Âm nhạc Việt Nam (Hợp xướng “Chân sóng” do Nhạc sĩ Văn Phượng phổ từ một chương của trường ca này).

 

Nghe tin anh được giải, tôi đến chúc mừng, anh tâm sự với tôi mà như nói với chính mình: “Vậy là tính từ tác phẩm anh được Giải thưởng Hội Nhà văn đầu tiên năm 1979 “Dấu chân qua trảng cỏ” (xuất bản năm 1978) đến bây giờ mới lại được giải thưởng lần hai với “Chân đất”. Gần 34 năm rồi còn gì, một đời người làm thơ rồi chứ có ít đâu. Gần 34 năm ấy, có người đã tự bỏ cuộc với thơ, có người vẫn sống với thơ nhưng không vượt được chính mình. Anh còn giữ được thơ đến mãi giờ này quả là một sự nỗ lớn vượt lên với chính mình rồi. May quá, năm 2012, tình hình kinh tế khó khăn  không vận động được tài trợ cho học bổng “Vì trẻ em Sơn Mỹ”. Anh nghĩ, tiền giải thưởng của mình, suy cho cùng cũng là tiền của dân đóng góp, nên  số tiền thưởng này, anh sẽ dành trao học bổng cho trẻ em Sơn Mỹ vượt khó, học giỏi”.

Với “Trường ca chân đất”, Thanh Thảo lại một lần nữa làm mới cấu trúc trường ca của mình. Với cấu trúc 9 chương, đều bắt đầu từ chữ “Chân” mà Chu Văn Sơn gọi là cấu trúc “nan quạt” hoặc cấu trúc “chuỗi tràng hạt”(1). Nhưng theo tôi, “Trường ca chân đất” là sự tiếp biến và nâng cao lên trên nền tảng cấu trúc của hai trường ca trước đó của anh: “Khối vuông ru-bích” và “Trò chuyện với nhân vật của mình”.

“Khối vuông ru - bích” là cấu trúc chuyển động tròn (theo kiểu vòng tròn mở không có tâm); tâm chỉ hình thành khi người đọc tiếp nhận bằng cách “xoay” các “khối vuông thơ”. “Trò chuyện với nhân vật của mình” thì chính cụ Đồ Chiểu là “tâm thơ” để làm cuộc “trò chuyện” với toàn bộ các nhân vật trong tác phẩm của mình xoay quanh mình (tác giả của các nhân vật đó) trong một đêm ở đồng bằng sông Cửu Long qua bút pháp đồng hiện tài hoa của Thanh Thảo. Còn “Chân đất” là một vòng tròn đồng tâm hẳn hoi. Lấy “Chân đất” làm tâm thơ, từ tâm “Chân đất” lan tỏa ra (suy diễn ra) 9 chân khác (Chân tre, Chân ruộng, Chân mưa, Chân núi, Chân cò, Chân tháp, Chân mây, Chân sóng, Chân lũy); rồi từ 9 “chân” kia lại tụ về (quy nạp về) làm nên “Chân đất”. Vì lẽ đó mà “Chân đất” là tên trường ca mà không đứng thành một “Chân”/chương riêng (và nhất định cả Thanh Thảo và người đọc đều không ai nghĩ đến cái chương “Chân trời” - đối lập với “Chân đất” vì như vậy sẽ bị đối trọng, bị lệch tâm, mất “chân”). Vòng tròn đồng tâm này chuyển động mở ra và thu về liên tục tạo nên “một hào quang thơ chín tia sáng” lung linh, biến hóa (theo kiểu cấu trúc đèn Led hiện đại) được “lập trình” một cách hoàn chỉnh, chặt chẽ, không có một “chân” nào có thể bung ra khỏi cấu trúc, và cũng có thể tự do chuyển hóa, bổ sung, lan tỏa ánh màu lẫn nhau.

Ở “Trường ca chân đất”, Thanh Thảo xếp theo trật tự các “chân” từ 1 đến 9 (Từ “Chân tre” đến “Chân lũy”)  nhưng lại không đánh số chương cố định như ta thường thấy ở trường ca theo kết cấu chương. Thanh Thảo rất có ý thức và anh đã thực hiện cấu trúc của trường ca mình đúng như vậy. Người đọc khi tham gia tiếp nhận, có thể thay đổi trật tự các “chân”/chương mà không nhất thiết phải theo trật tự bố trí của nhà thơ. Lúc đó, với vai trò là một “đồng sáng tạo”, người đọc có thể cấu trúc trở lại các “chân”/chương của trường ca theo ý thích riêng mình. Người đọc còn có thể bớt (không đọc) một vài “chân”/chương mà chỉ đọc những chương mình muốn biết (hoặc mình thích). Hơn nữa, với cấu trúc “vòng tròn đồng tâm lan tỏa” này, những người đọc thuộc ngưỡng tiếp nhận cao (những nhà thơ) có thể “sáng tạo” thêm nhiều “chân”/chương nữa (Ví dụ: Chân mạ, Chân đồi, Chân trâu, Chân chim… hoặc mở rộng ra hơn với những Chân thật, Chân lý, Chân dung…) để thực sự trở thành một “đồng sáng tạo” khi tiếp nhận tác phẩm văn học. Tất cả đều có thể… mà hoàn toàn không làm chệch được tâm “Chân đất” của trường ca này. Muốn thu về, bung ra, xoay quanh, phát hào quang mới tùy theo ý thích và cảm nhận riêng mình. Đó là tính hiện đại trong cấu trúc các tác phẩm nghệ thuật hiện nay ở cả Việt Nam và thế giới.

            Chính cấu trúc “vòng tròn đồng tâm lan tỏa” này, mà khiến ở các chương “Trường  chân đất”, Thanh Thảo đã tự do lan tỏa cảm xúc để mở rộng bình diện phản ánh từ quá khứ đến hiện tại và nối cả tương lai; từ tâm “cái tôi chân đất” của quê hương Quảng Ngãi, chỉ cần rung một nhịp chân là vòng sóng lan tỏa sẽ tỏa lan đến cả quê hương, đất nước, nối cả biển trời Tổ quốc mênh mông.

Từ quá khứ 600 năm trước, những người trai Việt vào Quảng Ngãi làm làm “lưu dân”: Một chàng trai sáu trăm năm trước/ một cô gái sáu trăm năm trước/ vật vã trên bãi sông Trà/ gió mơn man da thịt/ mùi bắp non mùi rong rêu mùi bùn nước sông/ ngai ngái/ đằm đằm trai gái hoang sơ; đó chính là: cái bát người con trai Việt/ lăn lóc tìm cặp mông người con gái Chàm bên chân Tháp; lan tỏa đến hôm nay, những con người Quảng Ngãi lại “hành phương Nam” làm lưu dân lần thứ hai với tư thế “mặt căng bình thản”: mỳ gõ thâu đêm Sài Gòn hoa lệ/ trứng cút thâu đêm Sài Gòn mưa xé/ bánh xèo thâu đêm liu riu ngọn lửa/ xích lô thâu đêm từng vòng cô đơn/ đất quê tôi hai lần thất lạc/ người quê tôi hai lần lưu dân (Chân tháp)      

 

Về nguồn gốc trường ca, Thanh Thảo từng phát biểu: “Khi những cảm nhận cá nhân và không khí chung của một xã hội, một dân tộc còn chưa nguôi, chưa lặng, đó là thời điểm của xuất hiện những anh hùng ca, những trường ca”(2). Lịch sử các cuộc chiến tranh giữ nước Việt Nam chưa nguôi lặng; biển Đông đang dậy sóng; Lý Sơn của chúng ta đang trở thành một mảnh hình hài thiêng liêng của Tổ quốc, và là tiêu điểm khẳng định chủ quyền Tổ quốc... Trong những dư chấn ấy, Trường ca thứ 10 của người con tài hoa Quảng Ngãi - Thanh Thảo đã chào đời, và tạo ra những dư chấn, những vòng sóng lan tỏa làm sáng thêm lên hình ảnh Quảng Ngãi trong lòng nhân dân cả nước và bạn bè quốc tế.

 

Những ba động của sóng nước biển Đông, những dư chấn lịch sử của vùng đất Quảng Ngãi hào hùng đã dội vào trường ca Thanh Thảo. Đọc “Trường ca chân đất”, ta nhận ra ngay những gương mặt, những tâm hồn cùng tính khí đẫm chất Quảng Ngãi. Và với cấu trúc “vòng tròn đồng tâm lan tỏa”, ta nhận ra ngay cái hồn vía Việt, con người Việt, nhân dân Việt qua những gương mặt Quảng Ngãi thân quen, qua sự chắt lọc tinh anh tài hoa của một thi sĩ Quảng Ngãi chính hiệu.

 

Cái cây tre ngâm đậm chất Quảng Ngãi: mắt rạng ngời/ mùi hơi gắt vì đã được ủ kín trong bùn/…/ tỏa bóng về sau/ không thể sống mà đau/ không thể chết mất gốc (Chân tre) chính là cây tre Việt, ánh mắt Việt Nam, gương mặt Việt Nam thẳng ngay, cứng rắn, kiên cường mà nhu hòa, uyển chuyển, lắt lay vẫy gió, gọi trăng.

 

Cái “tiếng rên”, “những cú xoay mình” của đôi trai gái Việt - Chàm Quảng Ngãi 600 năm trước dưới chân tháp: bên bãi sông Trà/ gió mơn man da thịt cũng chính là một giai điệu quen/ một bài hát không lời (Chân tháp) hình thành nên, trải rộng ra thành chiều dài trong cuộc hành phương Nam của cả dân tộc Việt.

 

Những người già Quảng Ngãi: tuổi ngót trăm ngày tăm xị rượu/ lưng còng song song mặt đất/ dáng thảnh thơi như một chiếc tàu bay/ bay chầm chậm qua mây mù u uất/ chở thênh thênh một đời nặng nhọc (Chân ruộng) cũng chính là gương mặt người nông dân Việt Nam cần cù, chịu đựng mà độ lượng, bao dung, đầy khát vọng.

 

Những lưu dân Quảng Ngãi trôi dạt về phương Nam, lòng vẫn hướng về quê xưa cũng chính là cái bước đi của toàn dân tộc Việt. Tha phương lại nhớ quê, tết đến lại nhớ quê. Cho nên: xin ba lạy cúi về làng xóm cũ/ ngẩng đầu lên thấy Thạch Bích tà dương/ thấy đất Cù Trâu thấy bờ xe nước/ những ống trúm nhốt giùm ta ký ức/ những con đò lơ lửng phía vầng mây/ ăn tô don mùi nước sông đọng lại (Chân tháp). Đây chính là hồn Việt, người Việt, tâm tình Việt. Mà tiêu biểu là Bác Năm Trì: lên 7 bác cọc còi theo cha ra đồng đập đất cục/ thoang thoảng mùi phân bò với hình dong rất Quảng: trán vồng như luống khoai/ tay chai bánh tráng sượng/…/ mặt đanh rắn đất cục mùa phơi ải (Chân tre) quen “nói tục, chửi bậy” một cách vô hại kia cũng chính là cái bản tính đàn ông của nông dân Việt.

 

Cái người mẹ Mộ Đức của Thanh Thảo, người mẹ Quảng Ngãi đang “xay lúa” trên chiếc “cối xay tre” để làm nên: bát ngô rang giã lớ/ trộn chút đường đen/ thơm cả chiều mẹ cho tôi ăn “ trong đầm đìa mưa tong tả” (Chân mưa) nơi góc vườn cây khế trổ hoa/ người đi đâu mãi biết là đi đâu/ con ra ngõ trước con vào vườn sau/ ngó cây vú sữa lâu lâu mẹ về  (Chân mây) cũng chính là những bà mẹ Việt Nam chịu đựng, hi sinh, yêu Tổ quốc đến tận cùng, dám hiến dâng cả một bầy con hi sinh cho Tổ quốc.

 

Cái con cò đứng một chân với người mẹ “nước mắt dòng thành một chân cò”“sinh phải đứa con tật nguyền” (Chân cò) bởi chất độc màu da cam kia, đó là nỗi đau đến Chúa cũng không thể cứu rỗi của người mẹ Quảng Ngãi, người mẹ Miền Trung, người mẹ Việt Nam thời hậu chiến.

 

Thơ chống Mỹ đã cho ra đời “cái tôi thế hệ” mà trong đó nổi bật nhất là “cái tôi Thanh Thảo”: một thế hệ thức nhiều hơn ngủ/ Xoay trần đào công sự/ Xoay trần trong ý nghĩ/ Đi con đường người trước đã đi/ Bằng rất nhiều lối mới (Một người lính nói về thế hệ mình), nhưng cái tôi lính ấy, dù có nói theo “giọng nặng dây buồm” Quảng Ngãi thì vẫn là cái tôi của cả một thế hệ trẻ Việt Nam chống Mỹ:  Nhiều năm sau tôi không nhìn thấy biển/ dù có “vượt trên đỉnh Trường Sơn”/ cũng không nhìn thấy biển/ suốt thời ấy biển với chúng tôi là tận cùng/ cuộc chiến/ một là được trở về với biển/ hai là không bao giờ (Chân sóng).

 

            Những ngư dân Lý Sơn, Quảng Ngãi mỗi bận xuống thuyền lại trực chỉ Hoàng Sa/ như có ai dẫn/… mỗi lần bị bắt mỗi lần bị đánh/ lại trắng tay trở về dành dụm ra khơi để vừa mưu sinh vừa cắm những cột buồm làm mốc biên cương Tổ Quốc cũng chính là  gương mặt của con người Việt Nam luôn tuyên bố không thể sống thiếu Hoàng Sa/ không thể sống thiếu biển. Đó là những người lính Việt, những anh bộ đội cụ Hồ nối vòng tay giữ đảo Gạc Ma ngày giặc đến, rôi anh dũng hy sinh kết nên những tràng hoa biển bất diệt: Có những người lính đảo/ đã chết theo vòng tròn/ tay họ giăng ra và siết chặt tay nhau/ như một tràng hoa biển/ không quỷ ma nào xé nổi/ tràng hoa biển ấy (Chân sóng).

 

            “Trường ca chân đất” do cấu trúc theo “vòng tròn đồng tâm lan tỏa” nên hơi thở của cuộc sống hiện tại phả vào trường ca này không ít những trở trăn, âu lo, nhưng chính từ “chân đất” Quảng Ngãi kiên cường, chính từ hiện thực những âu lo, trở trăn, thậm chí là hơi buồn ấy, càng về cuối, trường ca càng lan tỏa một niềm tin về một tương lai tươi sáng, để cuối cùng, đất nước Việt Nam vẫn vững vàng như “Chân lũy” (Chương cuối của trường ca), đánh tan kẻ thù, dẹp tan tham nhũng, vươn tới “chân trời”: đừng than phận khó ai ơi/ còn đá mọc lũy còn chỗi nẩy cây/ còn mình còn bạn còn đây/ ba lý tang tình/ là còn đổi thay/…/ bình thản/ tươi vui/ đừng than đường khó/ một viên đá còn góp nên thành/ đừng căng thẳng/ cứ hò lên cho bà lý nhẹ mình/ rồi qua sông/ rồi qua núi/ rồi qua suối/ rồi qua ta/ chân mình qua chân lũy/ tới chân trời/ xa lắc/ chơi vơi”…(Chân lũy).

 

----  MBA (Hội VHNT Quảng Ngãi)

        ĐT: 0905.005.755

 

CHÚ THÍCH:

(1)- Chu Văn Sơn (2012), “Chân đế ngàn đời chân khí hôm nay”, Trường ca chân đất, Thanh Thảo, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội.

(2)- Theo Lê Xuân Luýt (2001), Cảm nhận và phê bình văn học, Nxb Đại học Quốc gia, Hà  Nội.

 

 

 

 

Mai Bá Ấn
Số lần đọc: 60
Ngày đăng: 02.02.2013
[ Trở lại ] [ Tiếp ]
In tác phẩm Góp ý Gửi cho bạn
Cùng thể loại
TRIỆU TỪ TRUYỀN, HÀNH TRÌNH THƠ - HÀNH TRÌNH KHÁT VỌNG NHÂN VĂN - Nguyễn Nguyên Phượng
BÙI GIÁNG - THÂN PHIÊU BỒNG, HỒN CỐ QUẬN - Mai Bá Ấn
TẬP THƠ "ĐÔI HỒN" VÀ MỘT THIÊN DIỄM TÌNH - Phạm Ngọc Thái
Thắp sáng triền non (Bình bài thơ Không đề của nhà thơ Chu Thị Thơm) - Lâm Xuân Vi
NGUYỄN DU TIẾNG LÒNG THIÊN THU - Tâm Nhiên
THẾ GIỚI THI CA TƯ TƯỞNG BÙI GIÁNG - Tâm Nhiên
Phạm Ngọc Thái có chân dung một nhà thơ tình lớn của dân tộc - Nguyễn Đình Chúc
HOÀI KHANH SẦU XANH VƯỜN CÔ LIÊU - Tâm Nhiên
Mùa thu trong thơ Bích Khê - Lê Huỳnh Lâm
Đôi Dòng Thơ Nhạc Kỷ Niệm Sài Gòn Khiến Ta Tìm Đến Những Di Tích Cổ - Trần Văn Nam