Ủng hộ VCV
Số tác phẩm
22.261 tác phẩm
2.576 tác giả
145
75.147.693
 
“108 Bài thơ Đường chọn dịch” (Tiếp phần 5)
Ngọc Châu

                                 

 

   Ngọc Châu giới thiệu tập


                

   (Dịch giả Phạm Đình Nhân là Chủ tịch Quỹ Giải thưởng Phạm Thận Duật, nguyên Phó Giám đốc Trung tâm UNESCO Thông tin tư liệu LS&VHVN, hiện ở 110 Ngõ 158 Ngọc Hà, Ba Đình, Hà Nội
    Năm nay bác đã trên 80 tuổi, thuộc vào lớp người "xưa nay hiếm". Hiếm vì là nhà thơ cao tuổi đã đành, nhưng hiếm nhất chính là vi bác thông hiểu Hán tự. Lớp người như bác đúng là càng ngày càng ít đi đối với đất nước chúng ta hiện nay. Vậy nên khi nhận được tập "108 BÀI THƠ ĐƯỜNG CHỌN DỊCH" của bác gửi tặng tôi nghĩ mình có trách nhiệm phải giới thiệu càng rộng rãi càng tốt tới mọi người yêu thơ - nhất là với những người yêu thích thơ luật Đường (TLĐ), hiện đang sinh hoạt ở rất nhiều Câu lạc bộ TLĐ trên toàn quốc. Cũng là góp phần nhỏ vào việc lưu giữ cho thế hệ sau một tài liệu tham khảo cho kho tàng thơ Đường thu thập được từ trước đến nay.
    Tập thơ gồm 108 bài thơ chọn dịch, chia làm hai phần.


    Phần thứ nhất gồm 50 bài thơ Đường của 30 nhà thơ Trung quốc xếp theo vần A-B-C, phần thứ hai gồm 58 bài thơ chữ Hán của 36 nhà thơ Việt Nam xếp theo thời gian.
    Tuy Ngọc Châu có được học 6 năm Trung văn ở trường phổ thông nhưng từ ngày ấy đến nay ít dùng, tri thức về Hán học rất hạn chế nên chỉ mong muốn được giới thiệu tới nhiều độc giả mà không dám luận bình gì về các bản dịch. Phần này xin giành cho người đọc có những phẩm bình sau khi đọc tác phẩm thơ của dịch giả Phạm Đình Nhân (mail của bác Nhân:
(phdinhnhan@gmail.com ), điện thoai: 04.37221708 – 0987552467


    Do dung lượng tập thơ khá dài nên mỗi lần chỉ giới thiệu từ 1 đến 2 tác giả, Ngọc Châu cũng mạn phép làm theo người xưa là góp thêm một số bản dịch của mình chỉ để cho sự cảm nhận bài thơ nguyên tác được phong phú hơn mà thôi.)


                                                   (Tiếp phần 5)

 

18. MẠNH HẠO NHIÊN

 (689 – 740)

 

            Mạnh Hạo Nhiên, tên huý là Hạo, tự Hạo Nhiên, quê ở Tương Dương, sống ẩn  cư ở núi Lộc Môn thuộc tỉnh Hồ Bắc. Ông làm quan, từng giữ chức Tân khách Mạc phủ. Sống có khí tiết song lại thích an nhàn nên từ quan về ở ẩn. Ông mất năm 740 để lại tác phẩm Mạnh Hạo Nhiên thi văn tập gồm 4 cuốn.

 

34. XUÂN HIỂU

Nguyên tác :                  

春    眠   不   覺   晓

处  处   聞   啼   鳥

夜   来    風   雨   聲

花   落   知    多    少

 

 

Phiên âm :                    Xuân hiểu

Xuân miên bất giác hiểu

Xứ xứ văn đề điểu

Dạ lai phong vũ thanh,

Hoa lạc tri đa thiểu!

 

Dịch thơ :        

Buổi sáng mùa  xuân

                                    Phạm Đình Nhân

                                              Dịch 2006

Tỉnh giấc xuân trời sáng,

Tiếng chim hót nơi nơi,

Suốt đêm mưa gió thét,

Hoa rụng biết bao rồi!

 

Sáng xuân

                                             Ngọc Châu

                                              Dịch 2013

 

Sáng xuân bừng tỉnh giấc nồng

Chim vui ca hát rộn trong vườn nhà

Đêm qua mưa gió đến là

Lá cành rơi rụng, xác hoa đầy vườn!

 

19. TÀO ĐƯỜNG

 

 

            Tào Đường, nhà thơ đời Vãn Đường, không rõ năm sinh và năm mất. Ông tên chữ là Nghiêu Tân, hiệu là Tố Quá đạo sĩ, người Quế Châu.

 

 

35. LƯU NGUYỄN DU THIÊN THAI

Nguyên tác :                

                        樹  入  天  台  石  路  新

                        雲  和  草  静  囧  無  塵

                        煙  霞  不  醒  生  前  事

水  木  空  疑  夢  後  身

往  往  雞  鳴  巖  下  月

時  時  犬  吠  洞  中  春

不  知  此  地  歸  何  處

須  就  桃  原  問  主  人

 

Phiên âm :        Lưu Nguyễn[1]  du Thiên Thai,

Thụ nhập Thiên Thai thạch lộ tân,

Vân hoà thảo tĩnh, quýnh vô trần.

Yên hà bất tỉnh sinh tiền sự,

Thuỷ mộc không nghi mộng hậu thân.

Vãng vãng kê minh nham hạ nguyệt

Thời thời khuyển phệ động trung xuân.

Bất tri thử địa quy hà xứ,

Tu tựu Đào Nguyên vấn chủ nhân.

 

Dịch thơ :        

                    Lưu Nguyễn chơi Thiên Thai

 

                                    Phạm Đình Nhân

                                              Dịch 2007

 

Vào động Thiên Thai vách đá ngăn,

Cỏ cây mây lá, sạch phong trần.

Khói sương chẳng ngộ sinh tiền kiếp,

Rừng suối không còn mộng hậu thân.

Gà gáy âm vang trăng dưới núi,

Chó kêu văng vẳng động mùa xuân.

Nơi đây không biết là đâu nhỉ,

Vào tận Đào Nguyên hỏi chủ nhân.

 

                        Lưu Nguyễn dạo Thiên Thai

                                             Ngọc Châu

                                              Dịch 2013

 

Thiên Thai vách động đá ngăn

Cỏ che, mây chắn, bụi trần sạch băng

Tiền kiếp gió sương cản giăng

Suối rừng rửa sạch phù vân mai ngày

Gáy vang gà gọi trăng đầy

Chó kêu đâu đó vui vầy động xuân

Đây là đâu, khách tần ngần

Đào Nguyên tìm hỏi chủ nhân cho tường.

 

20. THÔI ĐỒ

 

36. XUÂN TỊCH  LỮ  THỨ

Nguyên tác :          

水  流  花  謝  兩  無  情

送  盡  東  風  過  楚  城

蝴  蝶  夢  中  家  萬  里

杜  鵑  枝  上  月  三  歌

故  園  書  動  經  年  絕

花  髮  春  崔  兩  鬢  生

自  是  不  歸  歸  便  得

五  湖  煙  景  有  誰  爭

 

Phiên âm :                    Xuân tịch lữ thứ

Thuỷ lưu, hoa tạ, lưỡng vô tình,

Tống tận đông phong quá Sở thành.

Hồ điệp mộng trung gia vạn lý,

Đỗ quyên chi thượng nguyệt tam ca.

Cố viên thư động kinh niên tuyệt,

Hoa phát xuân thôi lưỡng mấn sinh.

Tự thị bất quy, quy tiện đắc,

Ngũ hồ[2]  yên cảnh hữu thuỳ tranh?

 

Dịch thơ :                    

                      Đêm xuân xa nhà

                                

                                   Phạm Đình Nhân

                                              Dịch 2007

Hoa trôi nước chảy khéo vô tình,

Nhờ gió đông đưa tận Sở thành.

Giấc điệp mơ nhà xa vạn nẻo,

Đầu cành quyên hót nguyệt ba canh.

Thư nhà đã vắng tròn năm lẻ,

Hoa đón xuân cùng tóc bạc nhanh.

Không về, về cũng do mình quyết,

Mây khói Ngũ Hồ đẹp tựa tranh.

 

Đêm xuân lữ khách

                                                  Ngọc Châu

                                                  Dịch 2013

 

Vô tình - nước chảy, hoa trôi

Gió đông đưa đẩy tận nơi Sở thành

Đầu cành quyên hót ba canh

Xa nhà vạn nẻo mơ quanh đêm dài

Tròn năm vắng thư nhà rồi

Đón xuân tóc bạc da mồi bên hoa

Về hay không cũng do ta

Ngũ Hồ mây khói đúng là cảnh tranh.

 

21. THÔI HIỆU

( ? – 754)

 

Thôi Hiệu, nhà thơ đời Đường, người Biện Châu nay là huyện Khai Phong tỉnh Hà Nam. Đỗ tiến sĩ năm Khai Nguyên thứ 13, đời Đường Huyền Tông (năm 725). Làm quan đến chức Tư huấn Viên ngoại lang.

37. HOÀNG HẠC LÂU

Nguyên tác :                       

                        昔  人  已  乘  黄  鶴  去

                        此  地  空  餘  黄  鶴  楼

                        黄  鶴  一  去  不  復  返

                        白  雲  千  载  空  悠  悠

                        睛  川  厯  厯  漢  陽  樹

                        芳  草  萋  萋  鵡  洲  鸚

日  暮  關  鄉  何  處  是

烟  波  江  上  使  人  愁

 

 

Phiên âm :                    Hoàng Hạc lâu

Tích nhân dĩ thừa hoàng hạc khứ,

Thử địa không dư Hoàng Hạc lâu.

Hoàng Hạc nhất khứ bất phục phản,

Bạch vân thiên tải không du du.

Tình xuyên lịch lịch Hán Dương thụ,

Phương thảo thê thê Anh Vũ châu.

Nhật mộ hương quan hà xứ thị,

Yên ba giang thượng sử nhân sầu.

Dịch thơ :                    

                     Lầu Hoàng Hạc (1)

                              

                                 Phạm Đình Nhân

                       Dịch 2007

1. Ai cưỡi hạc bay lâu quá rồi

Để lầu Hoàng Hạc mãi đơn côi

Hạc vàng bay mãi không quay lại

Mây trắng lượn hoài mãi chẳng thôi

Anh Vũ bờ non xanh cỏ biếc

Hán Dương sông lặng bóng cây ngồi

Hoàng hôn gợi nhớ quê đâu nhỉ?

Sương khói trên sông buồn chẳng nguôi     

                                     Phạm Đình Nhân

                                     Dịch 2005

                          

2. Hạc vàng ai cưỡi đi rồi,

Còn đây Hoàng Hạc lẻ loi một lầu.

Hạc vàng bay mất từ lâu,

Nghìn năm mây trắng trên đầu còn bay.

Hán Dương cổ thụ còn đây,

Vũ Châu(2) thơm ngát tràn đầy cỏ non.

Chiều hôm quê cũ đâu còn,

Trên sông khói sóng nỉ non giấc sầu.

                                               

                    Hoàng Hạc lâu

                                                Ngọc Châu

                                                 Dịch 2013

 

Ai cưỡi hạc bay đi mất rồi

Chỉ còn Hoàng Hạc lầu đơn côi

Rời xa, mãi mãi chim vàng vắng

Quanh quẩn,  muôn đời mây trắng trôi

Anh Vũ bờ xanh màu cỏ mọc

Hán Dương sông mát bóng cây ngồi

Hoàng hôn gợi nhớ quê đâu tá

Khói quyện sóng buồn chẳng thể nguôi.

 

38. TRƯỜNG CAN HÀNH

Nguyên tác :           (其一)

                        君  家  何  處  住

                        妾  住  在  橫  塘

                        停  船  暫  借  問

或  恐  是  同  鄕

      (其二)

                        家  臨  九  江  水

来  去  九  江  側

同  是  長  干  人

生  小  不  相  識

 

Phiên âm :        Trường  Can hành (Kỳ 1)

                        Quân gia hà xứ trú,

                        Thiếp trú tại Hoành Đường.

                        Đình thuyền tạm tá vấn,

                        Hoặc khủng thị đồng hương.

 

                       Trường Can hành (Kỳ 2)

Gia lâm cửu giang thuỷ,

Lai khứ cửu giang trắc,

Đồng thị Trường Can nhân,

Sinh tiểu bất tương thức.

Dịch thơ :        

                   Trường Can[3] hành khúc (kỳ 1)

                                          Phạm Đình Nhân

                                          Dịch 2006

 

Nhà chàng ở nơi đâu?

Hoành Đường[4] nhà thiếp đấy.

Dừng thuyền ta thăm hỏi,

Hẳn ta đồng hương đây?

 

                    Trường Can hành khúc (kỳ 2)

 

                                     Phạm Đình Nhân

                          Dịch 2006

                       

                    Nhà anh bên Cứu Long giang

                        Cứu Long nơi ấy anh thường lại qua

                        Trường Can  quê của chúng ta

                        Vì em còn nhỏ sao mà biết anh.

                   

Khúc    hát đường Trường Can (1)      

 

                                               Ngọc Châu

                                               Dịch 2013

 

Xin hỏi, nhà chàng nơi đâu

Còn thiếp ở Hoành Đường đấy

Dừng thuyền ta hỏi thăm nhau

Dễ là đồng hương, chắc vậy.

 

                     Khúc hát đường Trường Can (2)

 

                    Nhà anh miền đất chín sông

Cửu giang vẫn thường qua lại

Trường Can hẳn là quê chung

Hậu sinh nàng chưa  biết tới.

                  

 

22. THÔI HỘ

 

            Thôi Hộ quê ở Bác Lãng, nay là Hà Bắc. Đỗ tiến sĩ năm Trinh Nguyên thứ 12 (796), làm quan đến chức Tiết độ sứ.

39. ĐỀ ĐÔ THÀNH NAM TRANG

Nguyên tác :                  

                        昔  年  今  日  此  門  中

                        人  靣  桃  花  相  映  紅

                        人  靣  不  知  何  處  去

                        桃  花  依  舊  笑  東  风

 

Phiên âm :        Đề Đô thành nam trang[5]

Tích niên kim nhật thử môn trung,

Nhân diện đào hoa tương ánh hồng.

Nhân diện bất tri hà xứ khứ,

Đào hoa y cựu tiếu đông phong.

Dịch thơ :        

                    Viết ở trại phía nam Đô thành

                                      Phạm Đình Nhân

                            Dịch 2004

1. Chốn đây, ngày ấy, năm nào,

Người xinh sánh với hoa đào hồng tươi.

Má đào nay ở đâu  rồi,

Hoa đào năm ngoái còn cười gió đông?

                                                       

                                                    Dịch  2012

 

2. Năm trước ngày nay tại chốn này

Hoa đào, má phấn đỏ hây hây

Má hồng nay đã đi đâu nhỉ?

Để lại hoa đào với gió mây

3. Ngày này năm trước ở nơi đây

Má phấn hoa đào đẹp ngất ngây

Nay đến má hồng không thấy nữa

Đào hoa năm trước vẫn còn đây

 

Thơ viết ở nam trại Đô Thành

 

                                               Ngọc Châu

                                               Dịch 2013

 

Năm xưa ngày ấy ở chốn này

Hoa đào bên má thắm ngất ngây

Má thắm giờ đây đâu rồi nhỉ

Để một đào hoa hóng gió tây

                       

23. TRẦN ĐÀO

 

Trần Đào tự là Tung Bá. Quê ở Hà Dương tỉnh Giang Tây. Nhiều lần thi không đỗ, ông về ở ẩn, tự xưng là: “Tam giáo bố y” (áo vải của ba giáo). Bài thơ Lũng Tây hành được xem như bài thơ hay nhất trong dòng thơ biên tái của Trần Đào.

 

40. LŨNG TÂY HÀNH

Nguyên tác :                   西 

誓  掃  匈  奴  不  顧  身

五  千  貂  錦  塟  胡  塵

可  憐  無  定  河  骨  邊

猶  是  春  閨  夢  裏  人

 

 

Phiên âm :                    Lũng  Tây[6]  hành

Thệ tảo Hung nô bất cố thân,

Ngũ thiên điêu cẩm[7]  táng hồ trần.

Khả liên Vô Định[8]  hà biên cốt,

Do thị xuân khuê mộng lý nhân.

Dịch thơ :                     Hành khúc Lũng Tây

Thề diệt Hung Nô không tiếc thân,

Năm nghìn tướng sĩ đã lìa thân,

Bên dòng Vô Định đầy xương cốt,

Thương kẻ khuê phòng mộng gối xuân.

                                                        Dịch 2007

 

                            Hành khúc Lũng Tây

 

                                               Ngọc Châu

                                               Dịch 2013

 

Xả thân thề diệt Hung Nô

Năm nghìn tráng sĩ chung mồ nơi đây

Dòng Vô Định xương chất đầy

Thương bao khuê phụ đêm ngày chờ mong

 

                                    (tiếp phần 6)



[1] Lưu Nguyễn :  Lưu Thần và Nguyễn Triệu. Theo truyền thuyết vào khoảng năm Vĩnh Bình đời nhà Hán (58-75), nhân tết Đoan Ngọ, Lưu Nguyễn lên núi hái thuốc lạc vào động Thiên Thai, được gặp tiên nữ.

[2] Ngũ hồ : Đời Xuân Thu, Phạm Lãi sau khi giứp Việt vương Câu Tiễn thành công lấy được nước Ngô rồi, liền lui về dạo chơi Ngũ hồ

(1) Lầu Hoàng Hạc nằm trên ghềnh đá Hoàng Hộc, huyện Vũ Xương, tỉnh Hà Bắc, Trung Quốc

(2) Vũ Châu tức Anh Vũ châu, vùng bãi vẹt trong sông Trường Giang, tây nam huyện Vũ Xương

[3] Trường Can là miền đất phía nam thành phố Nam Kinh ngày nay.Trường Can hành là tên một khúc Nhạc phủ.

[4] Hoành Đường : tên con đê đắp từ thời Tam Quốc ở phía nam Nam Kinh.

[5] Câu chuyện về bài thơ : Thôi Hộ, chàng thư sinh thi trượt, trên đường về thất thểu trong rừng. Khát nước, chàng liền vào ngôi nhà tranh oó vườn đào phía nam thành  xin nước uống Một cô gái lấy nước cho Thôi Hộ. Uống nước xong, chàng lững thững ra về. Năm sau, nhớ chuyện cũ, chàng lại tìm đến ngôi nhà đó thì cửa đóng then cài. Chàng thất vọng đề bài thơ trên. Ít lâu sau, một cụ gìa tìm đến Thôi Hộ nói rằng con gái của cụ sắp chết. Thôi Hộ  liền đi cùng với cụ gìa. Khi gặp, cô gái đang nằm trên giường bệnh, Thôi Hộ liền nói : ”Anh đã đến với em đây!”. Cô gái mở mắt nhìn và nghe thấy tiếng Thôi Hộ, liền tỉnh dậy và khỏi bệnh. Gia đình cho là có duyên số nên cho hai người lấy nhau.

 

[6] Lũng Tây : miền đất phía tây Lũng Sơn thuộc tỉnh Cam Túc ngày nay.

[7] Điêu cẩm : Mũ da điêu, áo cẩm bảo dùng cho các tướng sĩ.

[8] Vô Định : Con sông chảy qua tỉnh Thiểm Tây vào sông Hoàng Hà.

 

Ngọc Châu
Số lần đọc: 27178
Ngày đăng: 04.01.2014
[ Trở lại ] [ Tiếp ]
In tác phẩm Góp ý Gửi cho bạn
Cùng thể loại
Patrick Lane: nếu tình cờ cái đẹp xuống trên tay - Nguyễn Đức Tùng
Dịch SZABÓ LÖRINC – Chợt đọc Chân Phương - Nguyễn Hồng Nhung
Một số truyện ngắn của A.S.Puskin - Ngọc Châu
Chùm thơ: viết ở Bắc Kinh - Nguyễn Thị Thúy Hạnh
Đọc thơ vì sự thay đổi của thế giới - Nguyễn Hồng Nhung
Ngọc Châu giới thiệu phần 3 tập "108 BÀI THƠ ĐƯỜNG CHỌN DỊCH" - Ngọc Châu
Ngọc Châu giới thiệu phần 2 tập “108 Bài thơ Đường chọn dịch” - Ngọc Châu
Đoạn ghi gởi Lữ Quỳnh cùng đi hái những giấc mơ - Đinh Cường
Ngọc Châu giới thiệu tập "108 BÀI THƠ ĐƯỜNG CHỌN DỊCH" của dịch giả Phạm Đình Nhân (do NXB Văn Học vừa xuất bản quí 2 năm 2013) - Ngọc Châu
Tập thơ Mây Khói Quê Nhà - Phan Chính
Cùng một tác giả
Chết (truyện ngắn)
Tâm nguyện (truyện ngắn)
Hoàng Sa (truyện ngắn)
Người vợ bị bán (truyện ngắn)