Ủng hộ VCV
Số tác phẩm
22.460 tác phẩm
2.580 tác giả
117
76.412.203
 
Mùa thu...những chiếc lá tìm nhau
Trương Văn Dân

 

 

 

1-Mênh mông và cô độc!

 Đó là cảm giác đầu tiên ngay khi vừa đặt chân lên đất Mỹ.Vẫn là những căn nhà xinh xắn, khang trang, sân trước vườn sau, nhưng khoảng cách từ nhà này đến nhà kia trông giống như những dòng kênh mà vắng bóng chiếc cầu, chia cắt.

Trước nhiều căn nhà ở Mỹ thường có một lá cờ tung bay, không biết đó là dấu hiệu của tự hào, phô trương hay đơn giản chỉ là ý nghĩ thuộc về một cộng đồng nào đó để thấy mình bớt lẻ loi?

Quy hoạch đô thị ở Mỹ khá giống Úc, khu nhà ở, khu thương mại riêng biệt và cách xa nhau… nhưng cách tổ chức xã hội năng động hơn, hiện đại hơn và dĩ nhiên là cũng xô bồ, náo động hơn.

 Người Việt ở Mỹ sống ở những căn nhà rộng, tiện nghi, đời sống sung túc nhưng nếp sống và sinh hoạt của họ chẳng khác lúc còn ở VN là bao. Khác với người Việt ở Âu Châu, thường xem mình là dân ngoại quốc sống trên đất người, người Việt ở Mỹ sau vài mươi năm sinh sống đã tự cho mình là dân Mỹ. Nghĩ, Tin như vậy ..nhưng trên thực tế, bị bứng gốc, thế hệ thứ nhất đâu dễ gì hội nhập nơi quê người. Tôi tin là rất khó thể xóa mất nền văn hóa đã ăn sâu vào máu thịt.

Nhà ở và phố thị cách xa nhau, không phương tiện công cộng- hay hạn chế- nên hai giới  là người già và trẻ em coi như bị bỏ rơi. Ở Mỹ vì chỉ có thể đi lại bằng xe hơi và mục đích của quy hoạch này là tăng tiêu thụ xăng, món hàng ruột của các tập đoàn tài phiệt. Vì lý do đó mà xe lửa gần như vắng bóng trên đất Mỹ.

Sự cô đơn và lạc lõng ở Mỹ dễ khiến những người già bị trầm cảm. Họ cô đơn, sống qua ngày trong những căn nhà đóng kín. Con cháu đi làm từ sớm, chiều tối mới về, họ nằm nhà xem phim Hàn hay nghe nhạc, thi thoảng mới có thể tổ chức gặp nhau để tha hồ kể chuyện ngày xưa.

Tiếng Anh kém, khó hòa nhập.

Đường phố rộng mà những ai không biết lái xe là xem như bị bỏ tù giữa bốn bức tường, cho đến khi con cháu rảnh rỗi đưa đón. 

Khoảng cách ở Mỹ không tính bằng km mà bằng  đơn vị thời gian. 30 phút. 60 phút. Đó là thời gian đi xe, nếu không bị tắt đường. Khoảng cách  rộng, mỗi lần rời khỏi nhà mất rất nhiều thời gian..

Bạn bè hẹn cà phê mất cả buổi. Những người già từng nhóm chụm đầu nói chuyện, nhiều nhóm khác nhau. Vắng bóng những người trẻ. Sinh ra ở đây, họ thực dụng, tính toán, thiếu tình cảm gia đình và phần lớn không rành tiếng việt nên ít quan tâm đến cộng đồng của cha mẹ, ông bà mình.

 Khi mới qua, ai cũng cố làm việc để mua nhà lớn, nhiều phòng. Lớn lên, các con đi làm xa và cha mẹ sống đơn độc trong căn nhà rộng.Các phòng trống, họ giữ lại nhiều kỷ vật của các con, những bức vẽ nguệch ngoạc ngày còn bé. Còn khi ba mẹ mất đi, các con thường vất bỏ các đồ vật vô ích mà ba mẹ đã mua và lưu giữ.

Trên đây chỉ là vài nét chấm phá về cảm giác ngay khi vừa mới tới Mỹ. Có thể còn thiếu sót hay chủ quan…và tôi muốn để dành một bài viết khác về giấc mơ Mỹ và về miền đất hứa này.

 

Ở nhà  chị Thi Nga, em gái Nguyên Minh ở Santa Clara chứng mươi ngày  rồi chúng tôi đón xe đò đi Santa An, phía nam California. Nơi đây có  nhiều cuộc găp gỡ với các văn nghệ sĩ mới quen hay từng quen biết : Du Tử Lê, Trần Văn Nam, anh chị Dạ Từ, Thu Vân cũng như Đặng Phú Phong, Thành Tôn, Trần Yên Hòa, Nguyễn Lương Vỵ, Trần văn Sơn, Nguyễn Đình Thuần, Trịnh Cung, Nguyễn Thị Ngọc Lan, Nguyễn thị Khánh Minh, Đặng  Kim Côn, Lữ Quỳnh, Tôn Nữ Thu Dung, Thân Tạ, Hứa Trinh, Hải,Trung HB... tất cả đều vui mừng gặp nhau trên đất khách.

             Thành Tôn, Nguyên Minh,Trần Văn Sơn, Trần Văn Nam, Đặng Phú phong TVD, Elena, Trần Yên Hòa

 

2-Mùa thu ở Virginia Từ giã thung lũng Silicon khô cằn và nắng hạn mấy anh em trong nhóm Quán Văn gồm chủ bút Nguyên Minh, nhà thơ Đoàn văn Khánh và vợ chồng tôi cũng lên đường bay về miền Đông nước Mỹ. Những người tuổi “chớm thu” bay về tiểu bang Virginia vào đầu mùa thu.Những rừng thu lá hãy còn xanh,

Khoảng cách mênh mông của đất nước rộng lớn này hình như đã bị tình yêu chữ nghĩa làm cho ngắn lại.

Đích đến ban đầu là viếng thăm họa sĩ Đinh Cường,  nhà thơ Phạm Cao Hoàng và nhà thơ Nguyễn Minh Nữu.

            Phòng tranh họa sĩ Đinh Cường là một thế giới riêng biệt. Khép lại mọi xáo trộn của thế giới bên ngoài để sáng tác. Tất nhiên là có rất nhiều tranh.Tạp chí. Văn. Bách Khoa. Hợp Lưu. Nhiều kỷ vật của bạn bè. TCS. Bùi giáng. Bửu Chỉ. Kiệt Tấn.  Khi đi, chúng tôi mang hơn 60kg sách qua cho họa sĩ Đinh Cường. Nhìn thấy đống sách, anh vô cùng xúc động.

            Trên chuyến bay, phần lớn sách là các số Quán Văn được bỏ trong 3 vali..xách tay. Ngăn chứa hành lý  trên máy bay American Airlines nội địa nhỏ nên vất vả lắm tôi và Elena mới bỏ 3 chiếc xách vào được. Chỉ có điều là khi đến sân bay Washington Dulles, không thể nào kéo ra. Thấy tôi loay hoay nên một anh bạn Mỹ cao lớn đến phụ. Cả hai cũng vật vã lắm mới kéo, lắc rồi lấy được. Đỡ xuống, năng trịch.Anh bạn Mỹ hỏi các bạn mang gì mà nặng thế? Tôi đáp sách. Nhìn nét mặt ngẩn ngơ của bạn, Elena nói thêm “Văn hóa nặng lắm bạn ơi!”

            Buổi sáng gặp nhau, họa sĩ Đinh Cường khen chiếc foulard màu vàng cam quấn quanh cổ áo Elena rất phù hợp với màu tóc. Bất ngờ là ngay tối hôm đó, anh phát họa chân dung Elena rồi copy và post lên blog Pham Cao Hoàng cùng với một bài thơ mừng gặp lại những người bạn từ xa đến thăm (*).

 

                         Trong Phòng Tranh của hs Đinh Cường (21/10/2015)

 

            Thời gian gần đây, có lẽ do chứng mất ngủ của tuổi già, khoảng 2, 3 giờ sáng anh thức giấc và ngồi dậy làm việc.Vẽ. Làm Thơ. Suy Nghĩ.  Thương nhớ bạn bè, kẻ ở xa, người đã mất.

            Những bài thơ của anh giống như một nhật ký, ghi chép những cảm nhận trong ngày. Nó có thể là thơ, hay những câu văn ngắn, ý tưởng lạ, sâu sắc nên có nhiều người thích.

            Khác với những nhà văn, nhà thơ lớn tuổi khác thường viết về quá khứ, về hoài niệm anh Đinh Cường, có lẽ do ảnh hưởng thiền môn Phật Giáo, thích nói về hiện tại, sống  hết mình với giây phút quan trọng nhất của đời sống, với một sự nhạy cảm, nhân hậu và một  tâm hồn nghệ sĩ.

             Trong một thời gian chỉ mươi ngày nhưng anh Nguyễn Minh Nữu đã tranh thủ đưa chúng tôi đi thăm rất nhiều nơi: những 7 tiểu bang ờ miền Đông. Một ngày chủ nhật, vợ chồng Nguyễn Minh Nữu - Kim Mai.. thay phiên nhau lái xe đưa chúng tôi đi thăm New York. Đi từ sáng sớm đến nửa đêm. Mệt. Thân tình. Vui. Trên đường  đi chúng tôi có ghé lại New Jersey để thăm nhà văn Trần Hoài Thư và ghé lại bệnh viện thăm chị Yến, vợ anh, bị bệnh.

             Và sự kiện quan trọng nhất trong thời gian này là buổi gặp mặt thân tình ở phòng tranh họa sĩ nhà văn Trương Vũ. Anh em văn nghệ từ các tiểu bang xa kéo đến. Phòng tranh rộng như một bảo tàng nghệ thuật. trên vách rất nhiều tranh, chân dung.. tạo nên một không gian thật ấm áp và rất…văn nghệ. Chính vì buổi họp mặt đông đủ này nên Quán Văn số 34 mới có chủ đề bên dòng Potomac.

Buổi hội ngộ văn nghệ sĩ tại nhà Nhà Văn/ Họa Sĩ Trương Vũ 24/10/2015

 

Sau lần gặp đông đảo anh em văn nghệ này nhà thơ Nguyễn Minh Nữu đã ghi lại trong một bài thơ “Tan mùa Lễ Hội” đầy cảm xúc (**).

 

…Nhớ hoài  buổi  tụ hội lớn nhất ở nhà Trương Vũ

Hôm đó giữa căn phòng lớn là nơi sáng tác tranh của Trương Vũ

Những tác phẩm hội họa tạo ra cảm giác được bước vào cái không gian kỳ lạ

cái không gian của sắc màu trang trọng và rất mực gần gũi thân tình

Đến từ Việt Nam thì có Nguyên Minh, Đoàn văn Khánh,

Trương văn Dân, Elena Trương và Thân Trọng Minh

từ Massachusetts  có anh chị Trần Doãn Nho

đến từ  California có anh chị Lữ Quỳnh

đến từ Maryland có Phùng Nguyễn

ngay tại Virginia thì anh chị Trương Vũ, Đinh Cường

Đinh từ Bich Thúy, Phạm Cao Hoàng - Cúc Hoa

Phạm Nhuận, Nguyễn Quang, Nguyễn Thị Thanh Bình, Bạch Mai

Nguyễn Tường Giang, Nguyễn Đinh Vinh, vợ chồng Nguyễn Minh Nữu

và cháu Thiên Kim, con gái lớn của Pham Cao Hoàng một thiên tài về ẩm thực…

 

Ôi cái tình văn chương của những người quen hay chưa quen mà mến nhau qua trang viết, đã bỏ bao thời gian, trải bao dặm đường để đến tìm nhau. Trong xúc cảm đó tôi nhớ  một câu nói của chị Ngô thị Mỹ Lệ, một độc giả thân thiết  phát biểu trong buổi ra mắt Quán Văn: “Em phải công nhận một điều là mình càng già càng "nông nỗi".Cứ thấy chỗ nào có mặt các anh chị mình là em thấy chỗ đó đẹp ghê luôn”. Một câu nói chân tình đến nỗi để lại một dư âm trong lòng những ai cầm bút. Chị Hạnh vợ anh Đặng Châu Long sau đó còn “phán” thêm một câu, xanh rờn : “Mấy ông ai chẳng vậy, gặp nhau là như mèo thấy…mỡ

 Mà văn chương và nghệ thuật không phải là lời THÚ TỘI rằng thế giới này bất toàn, nhỏ bé và cuộc đời này còn thiếu quá nhiều thứ để tâm hồn có thể bay bổng hay sao?

Được gặp và quen biết  các anh Trương Vũ, Nguyễn Tường Giang, Nguyễn Đình Vinh.. tôi rất muốn có dịp nói chuyện và học hỏi nhiều điều từ họ… rất tiếc là không có nhiều thời gian.

 

3-Bên dòng Potomac:  Sau chuyến đi, chủ bút Nguyên Minh bảo: Quán Văn số tới (034) mình nên chọn chủ đề bên dòng Potomac. Khi biết chủ đề này, anh Nguyễn Minh Nữu đã đưa  Nguyên Minh và vợ chồng tôi chạy cả buổi chiều, đến tận thượng nguồn, nơi giáp giới ba tiểu bang để chụp mấy tấm hình in sách.

Con sông này dài khoảng 665 km, có khúc tạo thành ranh giới giữa West Virginia, Maryland và cũng chia Virginia ra khỏi Maryland và Đặc khu Columbia . Các tàu lớn có thể đi trong sông Potomac đến Washington  D.C. và các địa điểm lịch sử khác nằm hai bên bờ.

            Viết về dòng Potomac, không thể không nhắc đến một nhân vật nổi tiếng thời còn chiến tranh Việt Nam. Một con người đáng để lịch sử và chúng ta ghi nhớ...

Anh tên là Norman Morrison, một người đàn ông Mỹ đã tự thiêu trước Lầu Năm Góc ( Bộ Quốc Phòng Mỹ) để phản đối chiến tranh Việt Nam vào ngày 2-11-1965.

Sự kiện này, nhân chuyến đi hội thảo về Alan Edgar Poe ở Mỹ (2009)  đã được một bạn văn của QV, Ts  Hòang Kim Oanh  cảm xúc  trong bài thơ (***):

Một người Mỹ đem cái chết bất tử của mình

Tặng người dân Việt Nam chúng tôi niềm hy vọng về những ngày thôi tan tác, bom đạn bão bùng

Tặng đồng bào tôi sự sống giữa mịt mùng cái chết

Chân lý ngập ngụa mùi bùn lợi danh bất chấp

Lương tri im ngủ nắng rám mùi dâu trên cây vương trượng…

 

Martin Luther King Jr  

 

                                                         Dưới chân tượng Martin Luther king và Abraham Lincoln

            Trong chuyến đi này, tôi và Elena có đên thăm bức tượng của mục sư Martin Luther King Jr. Ông là một nhà đấu tranh công lý chính trị người Mỹ da đen nổi tiếng nhất. Bài diễn văn  của ông “Tôi có một giấc mơ” (I Have a Dream), tuyên bố sự công bằng không chỉ riêng cho người Mỹ da đen mà cho cả nhân loại. Ông nhận giải Nobel hòa bình(1964) nhưng sau bị ám sát tại Memphis (1968).

  Chỉ xin nhắc lại ở đây vài câu nói nổi tiếng của ông: “ Tôi đã chọn tình yêu. Hận thù là một gánh nặng quá lớn.” Hay “ Đừng quên rằng những gì Hitler đã làm ở Đức Quốc đều hợp pháp.

Và “Tự do không bao giờ được ban phát từ những kẻ cai trị, nó phải được đòi hỏi bởi những người bị cai trị”; “ Sẽ có một ngày nào đó một cá nhân phải đứng về một phía, không nhất thiết là an toàn, cũng không phải là chính trị, hoặc phổ biến, mà anh ta phải đứng về phía đó vì lương tâm anh ta cho rằng đó là điều đúng.”

 

Sau khi thăm khu tưởng niệm Luther King, chúng tôi cũng có ghé đến thăm tượng đài cựu chiến binh Việt Nam và nghĩa trang Arlington nổi tiếng.

Tượng đài này được khánh thành vào năm 1982 là một bức tường đá cẩm thạch đen cắm sâu vào lòng đất, tạo thành một chữ V (có lẽ ngụ ý từ chữ Vietnam.Một cánh của chữ V chỉ về phía tượng đài Washington, cánh kia hướng về tượng đài Lincohn. Tổng chiều dài bức tường đá này là 76 mét.

Bức tường này đã trở thành một trong những nơi được thăm viếng nhiều nhất ở thủ đô Washington, như một minh chứng về nỗi đau và sai lầm của nước Mỹ. Hầu như bất kỳ lúc nào ta cũng thấy nhiều người đứng cạnh bức tường đá khổng lồ này. Họ trầm tư nhìn lên bức tường, tìm dòng chữ ghi tên người thân hoặc bạn bè mình đã tử trận trong cuộc chiến.

Nghĩa trang Arlington

Nghĩa trang Quốc gia Arlington nằm trên khu đồi có nhiều cây xanh và cỏ bao phủ rất rộng lớn, nằm gần bờ dòng sông Potomac phân chia Washington và tiểu bang Virginia và chỉ cách trung tâm thủ đô chừng hơn mười lăm phút xe hơi.

Chúng tôi tới nghĩa trang vào giữa mùa thu, hầu hết lá trên cành đang khoe sắc, từ màu vàng đến đỏ, tím. Nhìn quanh đâu cũng thấy bạt ngàn những bia đá cẩm thạch màu trắng giản dị, cắm thành hàng rất đều trên mặt đất bằng phẳng. Tất cả các ngôi mộ đều giống nhau về kích thước, kiểu dáng và cách trang trí. Arlington còn là nơi chôn cất các nhân vật nổi tiếng của nước Mỹ, như các nhà chính trị, các bộ trưởng, các thành viên tòa án tối cao liên bang, các vận động viên thể thao xuất sắc và một số minh tinh màn bạc.

Khác với nghĩa trang Père-Lachaise (Cimetière du Père-Lachaise) nổi tiếng nhất thế giới và lớn nhất ở của thành phố Paris có rất nhiều các ngôi mộ quý tộc và danh nhân. Nếu khi sống người ta ăn mặc nhiều kiểu cọ thì lúc chết cũng có những ngôi mộ không giống nhau. Đủ hình. Đủ kiểu. Những pho tượng tiếc thương. Cầu nguyện. Người quỳ gối, kẻ ngửa mặt nhìn trời. Mộ đơn độc. Mộ gia đình. Những nhà nguyện. Pere-Lachaise là một bảo tàng về nghệ thuật  và một trong những địa điểm thu hút  khá nhiều khách du lịch tại Paris. Hằng năm hàng trăm ngàn lượt người đã đến đây để thăm viếng những ngôi mộ có từ 200 năm qua và mộ các danh nhân.

Arlington thì cũng nổi tiếng nhưng vì một lý do trái ngược. Ở đây, khi chết mọi người đều bình đẳng trước Chúa, phương châm đó bắt nguồn từ Kinh Thánh. Nơi đây, mộ của đại tướng John Pershing lừng danh thời đệ nhất thế chiến hoặc của nguyên soái George Marshall thời thế chiến lần thứ hai cũng y hệt như mộ của hàng vạn binh nhất, binh nhì dưới quyền chỉ huy của họ. Vẫn chừng ấy diện tích đất, cùng một dãy với nhau, và vẫn chiếc bia mộ đá màu trắng giản dị. Khác chăng chỉ dòng chữ khắc trên bia. Nơi đây yên nghỉ trong danh dự và vinh quang người lính Mỹ và chỉ một mình Chúa biết là ai.

 

Kể lại vài sự kiện nhỏ trong chuyến thăm viếng nhưng trong bài này người viết muốn tìm hiểu do đâu mà (trước đây) nước Mỹ được xem là thiên đường và hiện nay đó là một thiên đường có súng và két sắt giữ tiền.

             Câu trả lời có thể nằm trong những con người vĩ đại và lý tưởng lớn giành lấy tự do và dân chủ từ thời lập quốc. Phần lớn đều có tầm nhìn xa và tấm lòng nhân ái. Chính họ mới là những người đã làm nên một Nước Mỹ Vĩ đại… …

             Sự kiện gần đây nhất là McCain, phi công ném bom miền Bắc, bị dân Hà nội bắn rớt, ngồi tù hỏa lò 6 năm; 1973 được thả về, phấn đấu trở thành nghị sĩ Mỹ và tranh cử tổng thống với Obama.  Ông là người có tầm nhìn rộng, biết biến hận thù thành tình bạn, và đã không mệt mỏi giúp hàn gắn mối quan hệ Việt-Mỹ.

            Nhưng hai nhân vật gắn liền với chiến tranh trong thế kỷ 19 và 20 mới là những con người kiệt xuất.

 

 Thắng vinh quang mà bại cũng anh hùng

 

Từ Vị tướng thắng vinh quang…

 

       Douglas MacArthur là vị tướng tài ba của nước Mỹ vào thời Thế chiến Thứ hai. Nhưng thành công sáng chói nhất của ông là chỉ trong vài năm mà đã tạo ra nền tảng tự do và dân chủ cho một nước Nhật bại trận hồi sinh từ những hoang tàn đổ nát. Ngày ông rời Nhật Bản, hàng trăm ngàn người xếp hàng dài hàng chục cây số để tiễn đưa. Họ kêu to "Sayonara, Sayonara," hay giơ cao biểu ngữ ghi "Chúng tôi thương mến và cảm ơn ông." 

            Sau hai quả bom nguyên tử thả xuống hai thành phố Hiroshima và Nagasaki, Nhật hoàng Hirohito kêu gọi nhân dân Nhật hãy can đảm chấp nhận đầu hàng vô điều kiện.

Khi ông đến Tokyo để tiếp quản, bộ tham mưu thúc ông triệu Nhật Hoàng đến tổng hành dinh để biểu lộ quyền uy nhưng ông bỏ qua những lời đề nghị của họ. "Làm như thế là xúc phạm đến tình cảm của nhân dân Nhật và biến Nhật Hoàng thành người tuẫn đạo”và ông bình tĩnh và kiên nhẫn chờ Nhật Hoàng sẽ tự đến gặp mình.

Quả nhiên chẳng bao lâu Nhật Hoàng yêu cầu cuộc hội kiến. Ông dành cho Nhật hoàng tất cả những danh dự thích hợp với bậc quân vương và tiếp đón chân tình. Khi ông châm thuốc lá cho Nhật hoàng, ông nhận thấy hai tay ông này run nên tin rằng Nhật hoàng sẽ kể ra những lý do để khẩn cầu đừng truy tố ông như một tội phạm chiến tranh. 

Trước đấy nhiều đồng minh, đặc biệt Nga và Anh, đã đòi đặt tên của Nhật Hoàng đứng đầu danh sách tội phạm ấy. Thế nhưng MacArthur cực lực chống đối. Khi Washington sắp nghiêng về quan điểm của người Anh, ông đề nghị là sẽ cần thêm ít nhất một triệu quân tiếp viện nữa. Lý do: Dân Nhật vẫn còn sùng bái Hoàng Đế của họ. Nếu Nhật Hoàng bị buộc tội và bị treo cổ như tội phạm chiến tranh, chính quyền quân sự phải được thiết lập trên toàn cõi Nhật Bản, và chiến tranh du kích chắc chắn lẽ sẽ bùng phát. Nhờ vậy tên của Nhật Hoàng  bị gạch ra khỏi danh sách tội phạm chiến tranh.

Nhưng Nhật hoàng chẳng hề biết gì về tất cả điều này. 

Nhưng những lo nghĩ của ông không có căn cứ. Nhật Hoàng đã không van xin mà còn nói: "Thưa Tướng Quân MacArthur, là người chịu trách nhiệm duy nhất cho mọi quyết định chính trị và quân sự và mọi hành động của nhân dân tôi khi tiến hành chiến tranh, tôi đến đây gặp ông để chịu sự phán xét của các cường quốc mà ông đại diện." Lòng MacArthur chợt dâng trào cảm xúc phi thường. Sự can đảm gánh vác trách nhiệm này đồng nghĩa với cái chết, khiến ông xúc động đến tận cõi lòng. Ông biết là trong khoảnh khắc lịch sử ấy mình đang đối diện với một Đệ Nhất Quân Tử Nhật Bản. 

            Và thế là MacArthur nhẹ nhàng nói “Tôi mời Ngài hôm nay đến đây để giúp tôi và cùng hợp tác với tôi tái kiến thiết lại một nước Nhật đang hoang tàn.”

            Cách hành xử này minh chứng rằng MacArthur, ngoài bộ áo quân nhân, còn là một chính trị gia cực kỳ khôn ngoan và có tầm nhìn.

 Sau đó MacArthur còn nghiêm cấm quân Mỹ không được phép ăn thực phẩm của Nhật vì dân Nhật đang đói. Ngược lại, chương trình cứu trợ Nhật với thực phẩm Mỹ đã giúp Nhật tránh được nạn đói mùa đông 1945 vì đất đai khắp nơi vẫn còn bị tàn phá. Sau 3 năm, tất cả quân Mỹ đều rút về căn cứ ở Okinawa. Ngoài việc dùng quyền lực Mỹ như một lá chắn bảo vệ nước Nhật khỏi những đe doạ nguyên tử từ Liên Xô, Trung Quốc và Bắc Hàn, McArthur còn “lobby” quốc hội Mỹ viện trợ tái thiết Nhật liên tục qua nhiều chương trình kinh tế và xã hội. Sau 40 năm, nước Nhật phát triển ngoạn mục và vào thập niên 80’ được coi như con rồng Châu Á.

 Nước Mỹ rộng mênh mông. Từ thảo nguyên rộng lớn đến những vùng sa mạc hoang vu. Có lẽ đó là lý do mà Người Mỹ có tầm nhìn xa, cởi mở và rộng lượng khi họ thắng trận chăng? Đọc lịch sử Mỹ, chúng ta thấy từ Washington, Lincoln đến MacArthur, Eisenhower, các lãnh tụ luôn luôn muốn làm “quân tử” và giúp kẻ bại trận phục hồi. Không hề có chuyện trả thù, nợ máu hoặc  bị tru di tam tộc!

 Những chính khách Mỹ đã nghĩ nghĩ sâu xa với tầm nhìn rộng lớn như miền đất sinh ra họ? và Grand Cayon với những dãy núi đa sắc mầu hùng vĩ đã giúp con người nơi đây có tầm nhìn vượt qua thời gian và không gian?

 

Còn Nhật Hoàng Hirohito kêu gọi nhân dân Nhật hãy can đảm chấp nhận đầu hàng vô điều kiện để "mở đường cho tất cả những thế hệ tương lai bằng cách chịu đựng những gì không thể nào chịu đựng được và đau khổ những gì không thể nào đau khổ được... để theo kịp đà tiến bộ của thế giới." Lời kêu gọi của ông đã khích lệ rất lớn đến tinh thần và nỗ lực kiên trì tái kiến thiết lại đất nước của người Nhật trong hoàn cảnh nhục nhã nhất và tuyệt vọng nhất của họ sau khi bại trận.

Nhưng Douglas MacArthur đã đối xử với họ rất bao dung, độ lượng, trắc ẩn, và công bằng trong suốt thời gian ông nắm giữ quyền lực tối cao ở Nhật Bản. Ông nhận hàng trăm ngàn lá thư cảm ơn từ các tầng lớp người Nhật. Ngày ông rời Nhật Bản về nước, hàng trăm ngàn người già trẻ nam nữ xếp hàng dài dày dặc ở hai bên đường từ sáng sớm trên suốt hàng chục cây số để tiễn đưa ông lần cuối. Họ kêu to "Sayonara, Sayonara," hay giơ cao biểu ngữ ghi "Chúng tôi thương mến Tướng Quân MacArthur," và "Chúng tôi cảm ơn ông."

Hai người đã gặp nhau sau khi lực lượng đồng minh chiếm đóng dưới sự lãnh đạo của tướng Douglas MacArthur đến Nhật Bản vào tháng Chín, 1945 và buổi gặp nhau ban đầu của hai người mà tiêu biểu cho hai chiến tuyến thù nghịch mới ngày nào đã mở cánh cửa tương lai tươi sáng cho nhiều thế hệ người Nhật.

*
Chẳng bao lâu sau khi tôi đến Tokyo, những người trong bộ tham mưu của tôi thúc giục tôi triệu Nhật Hoàng đến tổng hành dinh của tôi để biểu lộ quyền lực. Tôi bỏ qua những lời đề nghị của họ. "Làm như thế," tôi giải thích, "sẽ xúc phạm đến tình cảm của nhân dân Nhật và biến Nhật Hoàng thành người tuẫn đạo trong mắt họ. Không, tôi sẽ đợi rồi từ từ Nhật Hoàng sẽ tự đến gặp tôi. Trong trường hợp này, sự kiên nhẫn của Phương Đông sẽ phục vụ tốt nhất mục đích của chúng ta hơn sự vội vàng của Phương Tây."

Quả nhiên chẳng bao lâu sau Nhật Hoàng yêu cầu cuộc hội kiến. Mặc áo ghi lê và quần kẻ sọc, đội mũ cao, đi trên chiếc Daimler với quan tổng thị vệ triều đình ngồi đối diện ở ghế phụ, Hirohito đến tòa đại sứ. Ngay từ đầu cuộc chiếm đóng, tôi đã chỉ thị không nên đối xử bất kính với ông. Phải dành cho ông tất cả những danh dự thích hợp với bậc quân vương. Tôi tiếp đón ông chân tình, và kể lại dịp tôi được cha ông đón tiếp vào lúc kết thúc cuộc chiến tranh Nga-Nhật. Nhật Hoàng trông hồi hộp và bao căng thẳng trong suốt mấy tháng qua hiện ra rõ ràng. Tôi yêu cầu tất cả mọi người đi ra ngoài chỉ ngoại trừ người thông dịch cho ông, và chúng tôi ngồi xuống trước lò sưởi ở cuối phòng tiếp khách dài. Tôi mời ông thuốc lá Mỹ, ông cầm lấy và cảm ơn. Khi tôi châm thuốc lá cho ông tôi nhận thấy hai tay ông run. Tôi gắng hết sức mình để tạo cho ông sự thoải mái và tự nhiên, nhưng tôi biết niềm đau tủi nhục ở ông ắt hẳn sâu thẳm và khủng khiếp biết chừng nào. Tôi có cảm giác khó chịu là ông có thể sẽ kể lể ra những lý do để khẩn cầu đừng truy tố ông như tội phạm chiến tranh.

Trước đấy nhiều đồng minh, đặc biệt người Nga và người Anh, đã lên tiếng mạnh mẽ đòi đặt ông vào loại tội phạm ấy. Quả thật, tên của Nhật Hoàng đứng đầu danh sách tội phạm đầu tiên do họ đề nghị. Nhận thức những hậu quả bi kịch sẽ theo sau hành động bất công như thế, tôi cực lực chống lại những ý định ấy. Khi Washington dường như nghiêng về quan điểm của người Anh, tôi đề nghị rằng tôi sẽ cần thêm ít nhất một triệu quân tiếp viện nữa nếu họ làm như thế. Tôi tin rằng nếu Nhật Hoàng bị buộc tội, và có lẽ bị treo cổ như tội phạm chiến tranh, chính quyền quân sự phải được thiết lập trên toàn cõi Nhật Bản, và chiến tranh du kích có lẽ sẽ bùng phát. Tên của Nhật Hoàng sau đó bị gạch ra khỏi danh sách tội phạm chiến tranh. Nhưng ông chẳng hề biết gì về tất cả điều này.

Nhưng mối lo sợ của tôi không có căn cứ. Nhật Hoàng nói như thế này: "Thưa Tướng Quân MacArthur, là người chịu trách nhiệm duy nhất cho mọi quyết định chính trị và quân sự và mọi hành động của nhân dân tôi khi tiến hành chiến tranh, tôi đến đây gặp ông để chịu sự phán xét của các cường quốc mà ông đại diện." Lòng tôi chợt dâng trào lên cảm xúc phi thường khó tả. Sự gánh vác can đảm trách nhiệm này mà đồng nghĩa với cái chết, một trách nhiệm rõ ràng không đúng với những sự thật tôi hoàn toàn biết rõ, khiến tôi xúc động đến tận cả cõi lòng. Ông là hoàng đế cha truyền con nối, nhưng trong khoảnh khắc ấy tôi biết tôi đang đối diện với Đệ Nhất Quân Tử Nhật Bản đích thực.

Sau lần ấy Nhật Hoàng đến thăm tôi thường xuyên, chúng tôi bàn về hầu hết các vấn đề quốc tế. Tôi luôn luôn giải thích kỹ càng những lý do quan trọng nhất về chính sách chiếm đóng,và tôi nhận thấy ông hiểu biết uyên thâm về khái niệm dân chủ hơn hầu hết những người Nhật tôi có dịp trò chuyện. Ông đóng vai trò rất lớn trong sự hồi sinh tinh thần của Nhật Bản, và sự hợp tác trung thành và ảnh hưởng của ông đã tác động rất nhiều đến sự thành công của công cuộc chiếm đóng.

Nguồn:
Trích dịch từ tác phẩm "Reminiscences" của Douglas MacArthur, nhà xuất bản McGraw-Hill, 1964, trang 287-288. Tựa đề của người dịch.
Bản tiếng Việt:

Trần Quốc Việt

                 … Đến vị tướng bại cũng anh hùng

 

 Ở nghĩa trang Arlington, ngay cả mộ của vợ chồng tổng thống Kennedy cũng thế, có điều chúng được bố trí ở một chỗ riêng, trên đỉnh đồi, dưới chân Nhà tưởng niệm danh tướng Robert Lee.

Nói đến tướng Robert Lee không thể không nhắc qua về cuộc nội chiến Nam Bắc, bắt đầu năm 1861. Khi Abraham Lincoln đắc cử tổng thống và muốn xóa bỏ thể chế nô lệ. Trước ngày ông nhậm chức, bảy tiểu bang miền Nam, sống về canh nông, phản đối và tuyên bố ly khai chính phủ liên bang, thành lập chính phủ riêng do Jefferson Davis làm tổng thống. Chính quyền Abraham Lincoln không công nhận. Khi quân miền Nam tấn công đồn Sumter, nội chiến Hoa Kỳ bùng nổ và thêm 4 tiểu bang khác gia nhập phe miền Nam.

Cuộc phân tranh kéo dài 4 năm, tổn thất gần 1 triệu nhân mạng và chấm dứt khi quân miền Nam đầu hàng năm 1865. Trận chiến lớn nhất xẩy ra ở Gettysburg, sau ba ngày chiến đấu, quân hai bên đã thiệt mạng lên tới gần 50.000 chiến binh.

Chỉ huy quân Miền Nam là Tướng Robert Lee ra đầu hàng tại Richmond, thủ phủ tiểu bang Virginia, và được quân sử Hoa Kỳ ca ngợi như một nhân vật Anh Hùng. Ngày nay, ở bất cứ thành phố nào của Hoa Kỳ, cũng có ít nhất một con đường chính mang tên vị tướng này.

Ông Robert Lee nguyên là tướng lãnh của quân đội liên bang Hoa Kỳ nhưng gốc người miền Nam. Ông đã từng là chỉ huy trưởng trường West Point. Khi chiến tranh Nam Bắc xảy ra, Tướng Lee được đề nghị chỉ huy quân miền Bắc nhưng ông xin từ nhiệm để về đầu quân miền Nam tại Richmond, tiểu bang Virginia. Ông nói là không thể quay lưng với nơi ông đã sinh ra và trưởng thành.

Trong chiến tranh, ông lập được nhiều chiến công và là vị tư lệnh sau cùng của miền Nam nhưng sau khi thủ đô Richmond của miền Nam bị thất thủ, ông đã quyết định đầu hàng.

Cuộc chiến tranh tương tàn đẫm máu làm tổn hại hàng triệu sinh linh Hoa Kỳ, tan nát các đô thị miền Ðông và vùng Virginia. Tất cả đã thể hiện trong tác phẩm và cuốn phim bất hủ Cuốn Theo Chiều Gió mà phần lớn chúng ta đều đã đọc cũng như coi nhiều lần suốt thời niên thiếu.

Bài học từ câu chuyện đầu hàng. Chấm dứt chiến tranh.

 

Câu chuyện về vị tướng phe bại trận miền Nam Robert Lee được viết ra và hình ảnh của ông lại được chiêm ngưỡng nhiều hơn cả phe thắng trận.

Khi thủ đô miền Nam là Richmond thất thủ, kỵ binh của miền Bắc cùng với 3 quân đoàn bộ binh vây hãm quân miền Nam hết đường tháo lui. Bộ tham mưu của Tướng Lee đề nghị phân tán để giữ lực lượng đánh du kích, nhưng Tướng Lee quyết định đầu hàng. Ông viết thư riêng cho Tướng Grant của miền Bắc yêu cầu thu xếp buổi họp mặt.

Ông Grant, vị tư lệnh miền Bắc ra lệnh nghiêm cấm các sĩ quan và binh sĩ trực thuộc không được tỏ ra bất cứ hành động nào vô lễ với ông tướng tư lệnh miền Nam.Trưa ngày 9 tháng 4-1865, Tướng Lee và một đại tá tùy tùng cưỡi ngựa vượt qua phòng tuyến đến nơi hẹn. Hình ảnh ghi lại hai người đi qua đoàn quân nhạc của lính miền Bắc thổi kèn chào đón.

Cả hai vị tư lệnh đã từng biết nhau trong cuộc chiến tranh với Mễ Tây Cơ.

Theo quy luật chiến tranh thời đó thì quân miền Nam phải giải giới, tước bỏ khí giới và quân dụng và được tự do trở về quê cũ. Tướng Lee đồng ý, nhưng đòi hỏi một điều là cho binh sĩ của ông được giữ lại lừa ngựa, vì lính miền Nam đem ngựa từ các nông trại của họ đi chiến đấu chứ không phải ngựa của chính phủ cấp như lính miền Bắc.

Tướng Grant thỏa hiệp là sẽ không sửa chữa chính thức trên văn bản nhưng thực tế sẽ cho lệnh để lính miền Nam đem lừa ngựa về nhà.

Sau này khi viết về văn bản đầu hàng, lịch sử ghi rằng đây là thỏa hiệp của những người quân tử (The Gentlemen’s Agreement).

Là bại tướng nhưng trên các bảo tàng viện, đặc biệt ở Appomattox Virginia có tranh sơn dầu hình Tướng Lee hiên ngang trong bộ quân phục xanh dương, tóc và râu bạc, thể hiện hình ảnh người Mỹ anh hùng dù thua vẫn không bị khuất phục. Toàn thể nước Mỹ hiểu rằng khi một người Mỹ bị nhục, thì dù là Mỹ miền Nam hay miền Bắc cũng vẫn là một người Mỹ bị sỉ nhục. Và tôi cho rằng đây chính là điều đáng yêu nhất của nước Mỹ. Lịch sử không ghi lại các hình ảnh xấu xa của bất cứ phe nào. Dù trên thực tế dư vị cay đắng giữa Nam Bắc vẫn còn nhiều.

Dễ gì mà trút bỏ hận thù ngay sau khi hai bên chết cả gần một triệu người mà một số lớn đã giết nhau khi giáp mặt bằng gươm dao? Hai phe cùng đốt nhà của nhau và cùng tàn phá đô thị, nông trại, đôi khi có cả những hành động dã man như hãm hiếp phụ nữ và tàn sát trẻ em. Cuộc chiến nào mà không có những lần quá khích?  Nhưng thời gian rồi cũng xoa mờ những vết thương đau đớn ấy. Và Bảo tàng viện “Ðầu hàng” và nghĩa trang phe thua trận Arlington thường dạy chúng ta bài học làm người văn minh.

Rồi vết thương nào cũng phải được hàn gắn. Nước Mỹ đã có những bước ngoạn mục đầy màu sắc văn minh ngay từ khi chiến tranh chấm dứt để chấp nhận và tôn trọng người bại trận như những anh hùng.

Ngay sau khi chiến tranh chấm dứt, hoàn toàn không có tù binh, ai về nhà đó, cùng xây dựng lại quê hương.

Bây giờ hình tượng của tướng Lee tràn ngập ở miền Nam Virginia. Câu lạc bộ Lee, bảo tàng viện Lee, Lee High Way, Fort Lee và các đồn trại của quân đội liên bang mang tên vị tướng thua trận như là một biểu tượng anh hùng. Bởi vì người Mỹ đã thấm nhuần bài học về người lính dũng cảm cả hai phe trong chiến tranh và người quân tử của thời hậu chiến.

            Khi chúng tôi trao đổi với nhau về sự kiện lịch sử đáng trân trọng này,  anh Nguyễn Minh Nữu ngậm ngùi ngâm hai câu thơ  trong bài hát về nghĩa trang Arlington của ( Nguyển Đức Quang)

 Đã bảo vết thương không nhắc nữa

            Mà sao thấy sẹo cứ bâng khuâng!

 Nước mắt tôi và Nguyên Minh ươn ướt. Nhìn người lại ngẫm đến ta, không những bâng khuâng mà còn xót xa, trăn trở.

Mong lịch sử quay lại là một điều không tưởng. Nhưng bọn viết lách là những người mơ mộng. Biết yêu  cái đẹp và thích điều thiện. Tôn trọng tính nhân văn. Đọc lịch sử,  trông người rồi ngẫm nghĩ… cảm xúc trong lòng trào dâng  khó tả. Một nỗi nghẹn ngào, cay đắng.

Ôi,  hãy khóc lên hỡi quê hương yêu dấu!

 

4- Những chiếc lá..hốt hoảng tìm nhau

 

            Khi chúng tôi rời Virginia để về lại San Jose, miền Tây nắng ấm nên nhiều chiếc lá rụng đã khô. Có những trận gió lốc làm lá bay lơ lửng trong không khí. Rồi những chiếc lá rơi. Gió thổi xào xạc bên đường làm tôi chợt nghĩ là chúng đang hốt hoảng chạy đi tìm nhau, cùng trở về cành, những người con yêu văn chương, nghệ thuật. Để, dù xa quê, mà lòng còn ấm áp bên nhau.

…chúng ta chỉ còn nhau thôi


còn nhau trong nghĩa tình yêu chữ này (****)

đó là chất liệu gắn kết chúng tôi. Dù ở cách xa nhau nửa vòng trái đất.

Cả đoàn chúng tôi không thích đời sống buồn buồn ở Mỹ thế nhưng lúc ra sân bay San Francisco để về lại Sài Gòn mắt người nào cũng ươn ướt. Có lẽ không phải vì rời xa đất nước này, mà là bạn tình bạn sâu sắc, chia sẻ cảm xúc và tâm hồn.

Thương lắm những người bạn chưa gặp mà quen, mới quen mà nhớ! Mấy ngày trước, anh Đinh Cường đã buồn lắm khi nghĩ đến ngày chia tay. Đây là hai câu thơ của anh viết giữa khuya hôm đó:

mai kia mốt nọ đi thôi


bạn về xứ bạn tôi còn bóng tôi  (****)

Vâng, anh Đinh Cường ơi, những kẻ mơ mộng thường rất sợ bơ vơ và lạc lõng giữa cõi đời!

 

 (*)http://phamcaohoang.blogspot.com/2015/10/2076-tho-inh-cuong-gap-lai-nhung-nguoi.html

(**) http://phamcaohoang.blogspot.com/2015/11/2102-tho-nguyen-minh-nuu-tan-mua-le-hoi.html

(***)http://xunauvn.org/2014/03/27/ben-dong-song-potomac/

(***)https://tranthinguyetmai.wordpress.com/2015/10/29/trua-mua-gap-lai-nhau-o-nha-nguyen-quang/

 

Sài Gòn, 21-11-2015

Nguồn : Tập san vhnt Quán Văn số 34, bên dòng Potomac,11- 2015

 

 

                    

 

 

 

Studio Trương Vũ - Virginia, 24.10.2015

 

Trương Văn Dân
Số lần đọc: 1114
Ngày đăng: 19.01.2016
[ Trở lại ] [ Tiếp ]
In tác phẩm Góp ý Gửi cho bạn
Cùng thể loại
Bạn có thể nói gì khi một nhà thơ Mỹ xin lỗi - Nguyễn Đức Tùng
7 ngày ở Kuala Lumpur, Malaysia - Thái Quốc Mưu
Hà Nội, những ngày khó quên - Trần Dzạ Lữ
Điệu Valse của Văn Cao - Hà Phan
Người cùng thời với cha tôi - Yến Lan
Hào nhoáng Trịnh Công Sơn - Hà Phan
Tản mạn về một người bạn - Trần Dzạ Lữ
Xin góp đôi lời - Vĩnh Thông
Tròn trăng tháng tư - Phan Trang Hy
Mỗi ngày mừng tuổi mẹ - Tâm Thường Định
Cùng một tác giả
Những sợi tóc (truyện ngắn)
Ngã Rẽ (truyện ngắn)
Một áng mây bay (truyện ngắn)
Những gã thợ săn (truyện ngắn)
Colombre (truyện ngắn)
Thời hạn (truyện ngắn)
Chiếc áo dị kỳ (truyện ngắn)
Quyển Sách (truyện ngắn)
Ngọn tháp (truyện ngắn)
Một ngày của Chuá (truyện ngắn)
Những người bạn (truyện ngắn)
Tâm lý trị liệu (truyện ngắn)
Một ngày của Chuá (truyện ngắn)
Paris, ngày trở lại (truyện ngắn)
Về với hư không (truyện ngắn)
Lỗi kết nối (truyện ngắn)
Tòa soạn Quán Văn (tiểu luận)
Cuộc hội ngộ câm (truyện ngắn)