Ủng hộ VCV
Số tác phẩm
22.667 tác phẩm
2.589 tác giả
214
77.723.303
 
Vũ Hải Đoàn "Chơn chất đất và tơ non cỏ"
Mai Bá Ấn

 

                                                                                         

Trước gương mới biết bạc đầu

Thời gian tựa bóng chim câu qua thềm (Xuân thời gian).

Khi đặt bút viết về Vũ Hải Đoàn, tôi cứ bị hai câu thơ này ám ảnh. Qua đạn lửa chiến tranh rồi, vượt qua bao cuộc bể dâu nhân thế rồi, một ngày xuân hòa bình, ngồi ngắm mình trước gương mới biết tuổi xuân đã qua, mái đầu đã bạc, và nhận ra thời gian trôi đi nhanh quá… Mới thanh xuân đó mà bây giờ, tuổi đã vượt đại thọ 80.

1. Sinh đúng vào năm Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời (1930) tại thôn Nga Mân, Phổ Cường, Đức Phổ, Quảng Ngãi, chàng thiếu niên Võ Phụng Thê đã sớm dấn thân vào cuộc kháng chiến và sớm trở thành một cây bút đấu tranh tuyên truyền trên mặt trận báo chí. Làm thơ từ kháng chiến chống Pháp, đến nay, Vũ Hải Đoàn đã xuất bản gần 10 tập thơ. Anh là một trong những Hội viên lớn tuổi nhất của Hội Nhà báo Việt Nam, Hội viên lớn tuổi nhất của Hội VHNT Quảng Ngãi.

Là một nhà báo lão luyện, thơ Vũ Hải Đoàn mang đầy tính thời sự, nặng về tự sự một cách thật thà, chân chất, rất phù hợp với thơ ca kháng chiến. Điều này ai cũng dễ nhận ra. Vì thế, đến với thơ Vũ Hải Đoàn trong không khí của thơ ca đương đại, tôi đã cố gắng đi tìm bên trong các chi tiết tự sự ngồn ngộn ấy những điểm nhấn thơ được bung ra tự sâu thẳm tâm hồn người cầm bút. Và cũng không khó để thấy rằng, thơ anh chân chất đến dễ thương: 

Xin thưa toàn thể đồng bào

Hễ nghe báo động, chỗ nào ngồi yên

Có đèn thì phải tắt liền

Đừng bày hoảng hốt chạy xiêng chạy quàng (Chuyện ông Mười Bún-1952).

Rõ ràng là tuyên truyền đó, lời ăn tiếng nói của quần chúng đó, là cái câu chuyện của ông Mười Bún đang “loa loa” đó, mà đọc lên cứ thấy thích, thấy vui, thấy lòng thanh thản nhẹ nhàng cho dù đang trong thời gian “báo động”. Cái câu nói thường ngày với những từ đặc sệt nông dân “đừng bày hoảng hốt chạy xiên chạy quàng” sao mà đi vào thơ một cách tự nhiên, giản đơn, dễ thương như thế! Tất cả đó là bởi cái duyên ẩn trong cái chân chất, thật thà như đất đó thôi. Và chính điều này đã làm nên chất thơ riêng của Vũ Hải Đoàn.

Những tháng năm đất nước cắt chia, sống trong tâm trạng “ngày Bắc đêm Nam”, nỗi thương nhớ quê hương, vợ con là nỗi nhớ thương đau đáu. Nỗi nhớ từ hiện thực, dần dà lắng vào tiềm thức, ẩn vào vô thức để thơ cất lên tiếng nhớ từ trong giấc mơ của chính lòng mình. Mơ mà thật. Thật như tiếng nói của đất đai quê kiểng gọi mùa, thật như chính nỗi đau thương miền Nam đang gánh chịu, “thật như mơ” vì em đang ở bên ta:

Mỗi đêm thao thức đầu thêm bạc

Thương nhớ quê hương lắm chóng già

Ngày lo công tác - đêm thương nhớ

Mộng thấy quê nhà - em bên ta (Thao thức-1959).

Đọc bài tứ tuyệt này của Vũ thi nhân gợi lên trong ta không khí của Đường thi, nhưng không chỉ có thế, nó thấm đẫm cả nỗi đau Nguyễn Trãi: Tóc bạc thờ ơ tình tuế nguyệt/ Lòng son thắc mắc nghĩa quân thần (Đêm thuyền tới cửa bể cảm hứng), nỗi buồn Nguyễn Du: Bụi hồng nhuốm mái đầu phơ bạc/ Chiều tối lên cao buồn lắt lay (Tô Sơn đạo trung), nỗi lòng Cao Bá Quát: Đêm qua bỗng thấy chiêm bao/ Gặp con, giọt lệ tuôn dào như mưa (Chiêm bao thấy con gái đã mất); nhưng hiện đại hơn bởi hai câu thơ cuối: Ngày lo công tác - đêm thương nhớ/ Mộng thấy quê nhà - em bên ta…

Khi trở về Nam hòa mình vào không khí những ngày đánh Mỹ, thơ Vũ Hải Đoàn lại trở về đúng chất giọng của một người chiến sĩ cầm bút. Vẫn cái tự sự hồn nhiên, chơn chất đó, vẫn cái giọng đối đáp nông dân “đập cục” đó, vẫn là không khí chiến tranh ngột thở nơi vùng ranh đó, mà sao cứ thấy bà-cụ-thơ hiện lên như một bà Tiên trước mắt những người con đang chiến đấu:

Cánh cửa hầm mở trong đêm tối

Bà cụ bước ra nhìn chúng tôi cười

“Bay vào đây ăn khuya kẻo đói

Có tôm đồng kho với cá tươi”

Anh du kích: “Con cần đi gấp

Dẫn anh này qua công tác xã bên”

“Mày cần đi tao đâu có ép

Đem cá về cho mấy anh em” (Đêm qua vùng ranh-1971).

Thơ là đời, đời là thơ chính là sự diệu kỳ khó lòng ai giải thích. Chỉ có nhà thơ mới cảm nhận được và lột tả hết cái phút giây kỳ diệu này thôi.

 

2. Hòa bình, thống nhất, qua máu lửa chiến tranh, Vũ Hải Đoàn trở về với cuộc đoàn viên. Trên vùng đất của hồn thơ chơn chất bắt đầu mọc lên những đóa thơ tơ non như cỏ cho dù những tháng ngày này, anh đã bước qua cái tuổi thanh xuân.  Đọc Vũ Hải Đoàn, ta nhận thơ anh ngập tràn mùa xuân và sắc xanh của cỏ cây hoa lá:

Trời xanh quá, gió cũng chừng xanh quá

Phấn ong thơm hoa trái tỏa hương vườn

Như từng bước cũng làm xao động lá

Cùng dập dồn náo nức sức chồi vươn (Ơi mùa Xuân-2011).

Bài thơ này anh làm lúc đã bước sang tuổi 81, vậy mà ngập cả sắc xanh: trời xanh, gió xanh; phấn hương tỏa khắp vườn lòng; rộn ràng lá múa, náo nức chồi non. Người đời nói: nhà thơ thì trẻ mãi không già chính vì lẽ đó! Càng về già, sức xanh của thể thơ tứ tuyệt “già nua” được anh truyền vào một hơi thở mới, tươi tắn đến sinh động:

Đồng thở nhẹ, gió vuốt lay lá mới

Con bê vàng nô rỡn thảm cỏ xanh

Tiếng chim thả mặt trời hồng đáy nước

Xuân say hương, trái chín ngủ trên cành (Xuân đồng quê).

            Thoát ra khỏi từ trường thơ tự sự, Vũ Hải Đoàn đã có những câu thơ tình yêu đắm say, bay bổng. Nó nối kết với cái bay bổng của hồn vía ca dao, điểm sáng lên một hồn thơ vừa là gã si tình “lang thang” vừa là chàng trai ngu ngơ, tinh nghịch:

Bao giờ hoa em mở nụ

Để anh gửi cánh bướm sang

Nếu không hương hoa ấp ủ

Bướm này hóa kẻ lang thang (Hoa trinh nữ).

Tình yêu ấy về già thì trọn một thủy chung - cái thủy chung của một tình yêu chân thật:

Cây đời ngả bóng vào thơ

Còn em ngả bóng vào bờ vai anh (Cây đời ngả bóng-2010).

Hồn thơ tơ non ấy còn được Vũ Hải Đoàn thể hiện rõ qua mảng thơ dành cho thiếu nhi. Có lẽ đây là mảng thơ phù hợp nhất với tính chất “già mà duyên”, “nghiêm trang mà tinh nghịch” cộng với tài quan sát, phát hiện chi tiết của một nhà báo lão thành của anh:

Bé Thương đi mẫu giáo

Chim sáo mừng hót vang

Tính tình tang, tính tình tang

Chó vàng theo quấn quýt

Mũi khịt - khịt - khịt

Con mèo đòi đi theo

Kêu meo - meo - meo

Gà con không đi được

Kêu tiếc - tiếc - tiếc (Bé đi mẫu giáo).

Bài thơ ngập tràn âm thanh qua giọng đọc của trẻ mẫu giáo mà chở cả một hiện thực hấp dẫn tuổi thơ, mang đầy tính giáo dục. Mà đâu chỉ có chuyện động vật dưới đất, cả đến chuyện trăng trên trời, chuyện cổ tích xưa cũng được Vũ Hải Đoàn hiện thực hóa một cách sáng tạo, uẩn súc bài học giáo dục cao:

Ai đưa chú Cuội, cây đa

Lên trăng ngồi mát nhớ nhà hay không?

Mẹ rằng: Bởi Cuội chơi rông

Để trâu ăn lúa Trăng không cho về! (Nhìn trăng bé hỏi).

Chính cái hồn thơ chơn chất mà tơ non đã đem đến một Vũ Hải Đoàn vừa có cái chín chắn, triết luận của một nhà báo lão thành vừa có cái tinh nghịch, hóm hỉnh của con mắt và tâm hồn trẻ thơ:

Gà ri đứng góc cây chanh

Hỏi thăm vịt đực học hành ra sao

Vịt đang tắm mát trong ao

Nghển đầu “quặp quặp” ngày nào cũng đi

Trên cành tiếng hót họa mi

Đứa nào lười học tao đi mách thầy

Mèo mướp nhanh miệng nói ngay

Con mực nhà mày lười lắm chim ơi! (Hỏi nhau).

 

3. Có thể nói, với những bài thơ dài mang tính sự kiện, hiện thực lớn trong cuộc đời, Vũ Hải Đoàn còn nặng về tự sự có tính chất cổ vũ tuyên truyền. Riêng thơ tứ tuyệt nhiều bài đạt đến độ hàm súc cao và có sức lan tỏa. Tôi thật sự ấn tượng với những bài thơ thiếu nhi tinh nghịch, dễ thương. Đúng là, con người và thơ Vũ Hải Đoàn vừa chơn chất như đất quê vừa tơ non như cỏ xuân khoe sắc. Xin giới thiệu trang thơ Vũ Hải Đoàn cùng bạn đọc gần xa, mừng anh bước vào tuổi 86 như một lời chúc trường thọ và tiếp tục “càng già càng duyên”.

 

Cái bồ cảnh giới

Cái Bồ trên đỉnh núi Dâu

Cùng quân du kích canh tàu giặc Tây

Tàu giặc qua lại biển này

Ngoài khơi Bồ đứng - giữa cây cột Bồ

Tàu giặc vào sát tận bờ

Bồ leo lên đỉnh cột Bồ báo tin

Dân làng biết được tình hình

Tàu giặc rập rình đổ bộ lên đây

Du kích sẵn sàng bao vây

Đánh cho một trân tan thây giặc càn

Cái Bồ là cái Bồ nan

Cùng với dân làng đánh lũ giặc Tây (1951).

 

Người thợ rừng quê tôi tìm gỗ quý góp xây lăng Bác Hồ

Người thợ rừng quê tôi

Hai mươi năm không làm nghề xẻ gỗ

Bởi chiến tranh ít ai làm nhà đồ sộ

Chú chỉ lo chăm xới ruộng vườn

Xa nghề rừng lòng những vấn vương…

 

Chú biết rõ từng loài gỗ quý

Như nhớ từng gương mặt người thân, bạn bè, đồng chí

Thuộc núi rừng như thuộc mỗi đường quê

Ngõ tắt, lối ngang, sớm tối đi về…

 

Một hôm huyện mới giao nhiệm vụ

Tìm các loài lim, sơn, trắc, gụ…

Đưa về Hà Nội góp xây lăng Bác Hồ

Vinh dự nào bằng - nhưng chú có phần lo

Mấy năm qua xa rừng, xa núi

Gỗ quý còn không hay bom thù phá trụi?

Vì Bác kính yêu - gian khổ chẳng ngại ngùng…

 

Rồi một sáng rựa, rìu, muối, gạo

Với chiếc gùi, võng, màn, quần áo

Chú lên đường như chiến sĩ ra quân

Bước chân vui nay trở lại với rừng

Chào đón chú chim muông ca hát

Và dòng suối nước trong như lọc

Mênh mông soi tình Bác đời đời…

 

Rừng Quảng Ngãi quê tôi

Có những trắc, sơn, lim, gụ, quế

Những loài cây từng sống bao thế hệ

Nay lên đường với tất cả niềm vui

Gỗ quê hương - Đây triệu triệu trái tim người

                                  Đức Phổ, tháng 4/1974

 Lộc xuân

Người ươm lộc biếc - cành xuân thắm

Đất trở mình hoa uống ánh trăng

Đường mở rộng lòng thơm giọt nắng

Bầu trời xuống đất gặp sao băng (1997).

 

Không nghe lời mẹ

Gà mẹ đi vắng

dặn con ở nhà

đừng đi chơi xa

diều hâu bắt cóc

Gà con nhặt thóc

ngoan ngoãn ở nhà

gà hàng xóm qua

rủ đi đào dế

Quên mất lời mẹ

dặn đừng chơi xa

đi theo bạn gà

sang vườn hàng xóm…

Diều hâu bay qua

liệng vòng đáp xuống

gà con luống cuống

rơi tỏm ao sâu

Có chú vịt bầu

đang bơi tắm mát

thấy gà sắp ngất

vội đưa vào bờ

Vịt cứu gà tơ

khỏi bị chết đuối

 

Mai Bá Ấn
Số lần đọc: 602
Ngày đăng: 17.05.2016
[ Trở lại ] [ Tiếp ]
In tác phẩm Góp ý Gửi cho bạn
Cùng thể loại
Ngô Minh - Ngựa đá và những bông hoa cỏ - Từ Sâm
Dòng sông Mẹ trong tâm thức một người con đất Việt - Nguyễn Anh Tuấn
Bàn tay nhỏ dưới mưa - Lam Hồng
Một bài thơ hay của Hoàng Vũ Thuật - Từ Sâm
Tiếp nhận truyện Kiều từ góc nhìn triết học hiện sinh trong phê bình Văn Học ở miền Nam trước 1975 - Trần Hoài Anh
Đọc Mưa Hoang của Hà Quảng - Bùi Minh Vũ
Khuynh Hướng Cách Tân Trong Thơ Việt Nam Sau 1975 - Mai Văn Phấn
Phạm Ngọc Thái - Nguyễn Thị Hoàng
Nguyễn Minh Phúc "Nhắn quê xa lắc tiếng kêu thầm" - Lê Ngọc Trác
Cảm nhận về tập thơ " Cứa nát muôn trùng " (Trần Dzạ Lữ) - Tương Giang
Cùng một tác giả