Ủng hộ VCV
Số tác phẩm
22.191 tác phẩm
2.572 tác giả
125
74.778.066
 
Tác phẩm văn học nhìn từ nguyên lý cặp phạm trù nội dung và hình thức
Trương Thị Thu Thanh

 

                

Tóm tắt

Giá trị của tác phẩm văn học không nằm riêng ở câu từ mượt mà, bay bổng, gai góc cũng không phải nằm ở chủ đề tư tưởng, thế giới quan và nhân sinh của nhà văn, hay một xã hội về một thời đã qua hoặc cuộc sống ngày nay; mà chính là sự hài hoà, thống nhất giữa những thủ pháp nghệ thuật với nội dung chủ đạo có giá trị hiện thực và giá trị nhân văn của tác phẩm. Nói cách khác đó là sự thống nhất một cách biện chứng giữa cái biếu đạt (hình thức) và cái được biểu đạt (nội dung).

 

Từ khoá: Phạm trù, phạm trù nội dung, phạm trù hình thức, tác phẩm văn học.

 

1.      Đặt vấn đề

 Sự tách biệt nội dung và hình thức ra khỏi chỉnh thể tác phẩm đã dẫn đến nhiều bài viết rơi vào tình trạng rời rạc, không đồng nhất, không hợp logic. Cái biểu đạt không chuyển tải hết cái được biểu đạt. Cái được biểu đạt không bộc lộ toàn bộ qua cái biểu đạt nếu không khớp với nó. Nói cách khác, các thủ pháp nghệ thuật chưa thực sự làm toát lên được tư tưởng của tác giả. Do đó việc hoà hợp giữa hình thức và nội dung rất quan trọng trong quá trình sáng tác cũng như nghiên cứu văn học; là quá trình nhận thức biện chứng; là tạo nên chỉnh thể tác phẩm có giá trị.

2.      Nguyên lý cặp phạm trù nội dung và hình thức qua các tác phẩm văn học

2.1.           Khái niệm cặp phạm trù nội dung và hình thức

Cặp phạm trù nội dung và hình thức là một trong sáu cặp phạm trù triết học tạo nên bộ phận cấu thành phép biện chứng duy vật Macxit. Việc hiểu và vận dụng đúng, phù hợp cặp phạm trù cơ bản của triết học tạo ra cái nhìn đúng đắn, khách quan, chính xác, linh hoạt về sự vật, hiện tượng, tránh sự tuỳ tiện trong việc sử dụng hình thức và nội dung; đạt đến chân lý thực tiễn khách quan, bởi vai trò định hướng, chỉ đạo, gợi mở của phép biện chứng duy vật.

Phạm trù là những khái niệm rộng, phản ánh những mặt, những thuộc tính, những mối liên hệ cơ bản nhất của các hiện tượng, sự vật thuộc một lĩnh vực nhất định. Phạm trù “đại lượng”; “hàm số”; “điểm”; “đường thẳng” trong toán học; phạm trù “cái đẹp”, “cái bi”, “cái hài” trong mỹ học; phạm trù “âm nhạc”, “hội hoạ”, “điêu khắc”, “văn học”, “sân khấu”, “kiến trúc”, “điện ảnh” trong nghệ thuật…

Phạm trù triết học là những khái niệm chung nhất, phản ánh những mặt, những thuộc tính, những mối liên hệ cơ bản nhất và phổ biến nhất, của toàn bộ thế giới hiện thực, bao gồm cả tự nhiên, xã hội và tư duy, quy định về phương pháp luận. Vì vậy, phạm trù triết học là công cụ của nhận thức, đánh dấu trình độ nhận thức của con người.

Nội dung là phạm trù triết học, chỉ toàn bộ những yếu tố, những mặt, những mối liên hệ và những quá trình tạo nên sự vật. Nội dung bài thơ “Việt Bắc” của Tố Hữu là tái hiện lại những tháng năm gian khổ nhưng vô cùng vẻ vang của cách mạng, nói lên sự gắn bó mật thiết giữa miền ngược và miền xuôi, là lời ca ngợi công ơn của chủ tịch Hồ Chí Minh, của Đảng đối với dân tộc.

Hình thức là một phạm trù triết học dùng để chỉ phương pháp tồn tại và phát triển của sự vật; phản ánh về kết cấu, trình độ, tốc độ. Nội dung bài thơ “Việt Bắc” của Tố Hữu được biểu hiện qua hai phần, mười một khổ thơ, với điểm nhìn mang khuynh hướng sử thi, trữ tình, chính trị; những biện pháp nghệ thuật như: so sánh, ẩn dụ (“Nhớ gì như nhớ người yêu”, “Những đường Việt Bắc của ta, đêm đêm rầm rập như là đất rung”, “Nghìn đêm thăm thẳm sương dày/ Đèn pha bật sáng như ngày mai lên”); nhân hoá (“Mình về, rừng núi nhớ ai/ Trám bụi để rụng, măng mai để già”); những từ láy (“thiết tha”, “bồn chồn”, “ đêm đêm rầm rập”, “điệp điệp trùng trùng”); lặp từ (“nhớ”); nhạc điệu trầm bổng, nhẹ nhàng (“Ve kêu rừng phách đổ vàng/ Nhớ cô em gái hái măng một mình/ Rừng thu trăng rọi hoà bình/ Nhớ sao tiếng hát ân tình thuỷ chung”); dùng cách xưng hô thân tình, gần gũi (“mình” và “ta”); thể thơ lục bát (thể loại truyền thống của dân tộc, thể thơ của bình dân); giọng thơ tâm tình, tha thiết, ngọt ngào, đậm đà tính dân tộc.

Như vậy, hình thức là cơ cấu bên trong của nội dung, hình thức bên trong của sự vật. Nội dung là trạng thái nội tại của sự vật, quy định bên trong của sự vật tác động lẫn nhau, để tạo thành sự vật, hiện tượng (chỉnh thể tác phẩm văn học).

2.2.  Mối quan hệ biện chứng giữa phạm trù nội dung và phạm trù hình thức

2.2.1. Nội dung và hình thức là một thể thống nhất

Hình thức phản ánh nội dung và nội dung biểu hiện thông qua hình thức. Hình thức là hệ thống các yếu tố, vừa góp phần tạo nên nội dung vừa tham gia các mối quan hệ tạo nên hình thức. Nội dung là những mặt, những yếu tố, những quá trình tạo nên sự vật.

Đề tài trong tiểu thuyết “Những người khốn khổ” của Victor Hugo phản ánh về xã hội Pháp thế kỷ XIX với những con người thiện ác qua cách xây dựng nhiều tuyến nhân vật khác nhau. Nhân vật Jean Valjean luôn cố gắng sống lương thiện nhưng vẫn không thể nào thoát khỏi quá khứ. Trái ngược với một Jean Valjean đầy tình yêu thương nhân loại là một Javert hung ác, dữ tợn. Cả đời y đuổi bám Jean Valjean theo sự phục tùng mù quáng của luật pháp.

2.2.2. Nội dung quyết định đến hình thức

 Đây là mối quan hệ giữa cái ổn định (nội dung) và cái thường xuyên biến đổi (hình thức). Sự biến đổi bắt đầu từ nội dung. Nội dung biến đổi dẫn đến hình thức biến đổi theo.

Victor Hugo rất tinh thông khi lựa chọn thể loại tiểu thuyết. Với dung lượng đồ sộ của thể loại này đã cho phép nhà văn lột tả dầy đủ mọi cảnh đời bất hạnh, khổ đau; bóc trần những gương mặt hung ác được khoác lên mình danh hiệu cao quý cho chính nghĩa; ngợi ca những con người đầy tình thương nhân loại.

Mỗi thể loại có những đặc trưng riêng phù hợp với chủ đề, đề tài nhất định. Ảnh hưởng diễn ra hai hướng: Nếu hình thức phù hợp với nội dung thì hình thức thành động lực tích cực thúc đẩy nội dung phát triển và ngược lại.

2.2.3. Tính độc lập tương đối của hình thức

Hình thức có thể lạc hậu hơn nội dung vì không phải sự biến đổi của nội dung sẽ dẫn đến sự biến đổi hình thức.

Tuy nhiên một nội dung có thể phản ánh qua nhiều kiểu hình thức khác nhau. Một hình thức có thể biểu hiện nhiều nội dung khác nhau. Đôi khi nội dung và hình thức có sự chuyển hoá cho nhau trong điều kiện nhất định. Trong quan hệ này nội dung có thể là hình thức nhưng trong quan hệ khác hình thức có thể là nội dung.

Thông qua nhân vật Chí, nhà văn lên án chế độ thực dân phong kiến đã đẩy những người nông dân rơi vào con đường lưu manh hoá, bần cùng hoá; thể hiện nổi niềm cảm thông sâu sắc của tác giả đối với những người nông dân đồng thời làm nổi bật giá trị nhân văn cao cả, giá trị hiện thực sâu sắc “Nội dung chẳng phải là cái gì khác, mà chính là chuyển hoá của hình thức vào nội dung, và hình thức cũng chẳng có gì khác hơn là sự chuyển hoá của nội dung vào hình thức” (Hegel).

2.3   . Chỉnh thể tác phẩm văn học chính là mối quan hệ biện chứng giữa nội dung tác phẩm và hình thức tác phẩm.

2.3.1. Hệ thống chỉnh thể của tác phẩm văn học

Chỉnh thể là một tổng thể gồm các yếu tố có mối liên hệ mật thiết nội tại, tương đối bền vững, là phạm trù về sự vật, hiện tượng như là một tổng thể các bộ phận gắn bó nhau, xét về số lượng và chất lượng. Chỉ khi nào một tác phẩm có tính chỉnh thể thì hình thức và nội dung của tác phẩm mới thực sự xuất hiện. Vậy tác phẩm văn học là gì?

Theo chủ nghĩa lãng mạn thì cho rằng: Tác phẩm văn học là sự biểu hiện của tình cảm, cảm xúc, có tính nhân văn, do đó cần tìm hiểu nhà văn trước khi tìm hiểu tác phẩm.

Theo lý luận văn học: Tác phẩm văn học là hệ thống ký hiệu, cấu trúc ký hiệu hoàn chỉnh phục vụ cho mục đích thẩm mĩ đặc thù.

Theo Lêônôp: Tác phẩm văn học là tác phẩm nghệ thuật, tác phẩm ngôn từ mà bao giờ cũng là một phát minh về hình thức và một khám phá về nội dung.

Có nghĩa tác phẩm văn học là sự thống nhất giữa các yếu tố của văn học: đề tài, câu, ý, tứ, đời sống, cấu trúc, ngôn từ, hình tượng, kết cấu, nhân vật, giọng điệu, điểm nhìn, không gian, thời gian; là một quá trình tư duy nghệ thuật của tác giả, “biến những biểu tượng, ý nghĩ, cảm xúc bên trong của nhà văn thành một sự thực văn hoá khách quan cho mọi người soi ngắm, suy nghĩ” [4, trang 241, phần I].

Thông qua các thủ pháp nghệ thuật đặc sắc trong bài “Bánh trôi nước” của Hồ Xuân Hương, ta thấy bà đã sử dụng mô típ “Thân em” quen thuộc trong ca dao để chỉ về ngưởi phụ nữ nhỏ nhắn gắn với số phận “bảy nổi ba chìm”. Nhưng dưới chế độ phong kiến cuối thế kỷ XVIII – đầu thế kỷ XIX nặng nề với tư tưởng Nho giáo “trọng nam khinh nữ” ngăn quyền quyết định cuộc đời mình, hoàn toàn phụ thuộc vào đàn ông “Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn/ Mà em vẫn giữ tấm lòng son”.

Tóm lại nội dung tư tưởng và hình thức nghệ thuật luôn hài hoà nhau để tạo nên một chỉnh thể tác phẩm văn học. Mặc dù trong quá trình vận động, phát triển, đôi khi nội dung và hình thức tạm thời siêu hình nhưng luôn thống nhất, hỗ trợ cho nhau

2.3.2. Nội dung của tác phẩm văn học

Nội dung tác phẩm là một thể thống nhất giữa chủ quan và khách quan (thống nhất giữa đời sống được khái quát, được tái hiện với những tâm tư, tình cảm, lý tưởng của nhà văn).

Có thể nói nội dung tác phẩm văn học được bắt nguồn từ mối quan hệ giữa văn học với hiện thực. Với giọng điệu hết sức thơ, hết sức tự nhiên, bài “Sóng” của Xuân Quỳnh viết về một tình yêu thuỷ chung “dẫu xuôi về phương Bắc” hay “dẫu ngược về phương Nam” nhưng “nơi nào em cũng nghĩ, hướng về anh một phương”. Tình yêu ấy dù có “muôn vời cách trở” nhưng “con nào chẳng tới bờ”.

2.3.3.      Hình thức của tác phẩm văn học

 Khi xây dựng một tác phẩm văn học, các nhà văn, nhà thơ đều chú trọng lựa chọn cho mình hình thức biểu đạt hiệu quả cho toàn bộ nội dung tư tưởng.

Với những thủ pháp nghệ thuật miêu tả ngoại hình, nội tâm, hành trạng nhân vật, ngôn ngữ nữa trần thuật nửa trực tiếp, giọng văn, kết cấu, cách vào truyện, nhân vật Chí phèo được khắc hoạ một cách rõ nét, làm nổi bật lên hình tượng một Chí Phèo với những tính cách riêng biệt “con quỹ dữ của làng Vũ Đại” mất hết cả nhân tính lẫn nhân hình.

 Hình thức và nội dung tồn tại trong toàn bộ tác phẩm. Nội dung nhiều cấp độ khác nhau thì hình thức cũng có nhiều cấp độ “hình thức không phải là tổng hợp của các mặt hình thức của các lớp trong tác phẩm mà là một hệ thống hình thức chỉnh thể, trong đó chẳng những có sự thống nhất giữa hình thức và nội dung, mà còn có sự thống nhất, quy định, tùng thuộc nhau giữa các mặt hình thức của các lớp” [4, trang 255, 256].

2.3.4. Mối quan hệ biện chứng giữa nội dung và hình thức trong chỉnh thể tác phẩm văn học

Khi chúng ta tìm hiểu bài thơ “Tâm tư trong tù” của Tố Hữu, chúng ta cần đặt trong hoàn cảnh cụ thể như: Tiểu sử nhà thơ, thời gian sáng tác bài thơ ấy, hoàn cảnh ra đời bài thơ ấy sau đó đi vào tìm hiểu nội dung và hình thức biểu đạt.

 Đầu năm 1939, tình hình thế giới trở nên căng thẳng, Cuộc chiến tranh thế giới thứ hai có nguy cơ bùng nổ, thực dân Pháp trở lại đàn áp phong trào cách mạng ở Đông Dương. Cuối tháng tư năm ấy, Tố Hữu bị chính quyền thực dân bắt ở Huế trong một đợt khủng bố Đảng Cộng Sản. Bài thơ “Tâm tư trong tù” được viết trong những ngày đầu tiên nhà thơ bị giam ở nhà lao Thừa Thiên Huế. Cả bài thơ nói về nổi lòng của Tố Hữu với tâm trạng cô đơn của người chiến sỹ trẻ khi ở giữa chốn lao tù “Cô đơn thay là cảnh lao tù”, giữa sự “âm u” với “ánh lạt ban chiều”, giữa “bốn tường vôi” lạnh lẽo, giữa “sà lim”, “manh ván ghép làm đôi”. Nhưng sự cô đơn ấy, nổi khổ trong chốn tù ấy không đủ lực để làm người chiến sỹ mất ý chí mà cái chính là nổi đau, nổi lo lắng khi “Ở ngoài kia…. biết bao thân tù hãm”, “Đoạ đày trong những hố thẳm không cùng”.

Như vậy có nghĩa là, khi xem xét, đánh giá hay phân tích vấn đề gì đòi hỏi chúng ta cần phải đặt sự vật, hiện tượng ấy trong điều kiện “lịch sử cụ thể, toàn diện và phát triển” (tức là phải có phương pháp luận biện chứng Macxit). Trong nghiên cứu khoa học nói chung và nghiên cứu văn học nói riêng phương pháp luận đóng vai trò cực kỳ quan trọng. Sự quan trọng ấy thể hiện ở tất cả các nguyên lý, quy luật cũng như sáu cặp phạm trù cơ bản. Nhưng trong nghiên cứu văn học, bình luận hay phân tích, chúng ta không thể không áp dụng đến cặp phạm trù nội dung và hình thức đồng thời đặt tác phẩm văn học trong hoàn cảnh cụ thể, toàn diện, phát triển để chúng ta có cái nhìn khái quát hơn. Nội dung tác phẩm nghệ thuật đều thể hiện mối quan hệ giữa văn học với hiện thực, là một thể thống nhất giữa khách quan và chủ quan, trong đó có phần nhà văn khái quát, huyết mạch, lý tưởng của tác giả. Tất cả những nội dung ấy đều thể hiện thông qua các hình thức như: nhân vật, ngôn ngữ, nghệ thuật, kết cấu không gian và thời gian, thể loại…Nội dung và hình thức thống nhất trong chỉnh thể tác phẩm văn học.

Nội dung tác phẩm văn học mang tính quyết định nên ổn định còn hình thức thì lại thường xuyên biến đổi nhưng biến đổi từ từ phù hợp với nội dung trong tiến trình văn học. Tình yêu được nhiều nghệ sỹ thể hiện qua những vần, những giai điệu thơ khác nhau. Đối với Xuân Diệu thì “Yêu là chết ở trong lòng một ít/ Vì mấy khi yêu mới được yêu/ Cho rất nhiều song chẳng nhận bao nhiêu”. Đối với Xuân Quỳnh thì “Chỉ có thuyền mới hiểu/ Biển mênh mông nhường nào/ Chỉ có biển mới biết/ Thuyền đi đâu về đâu/ Những ngày không gặp nhau/ Biển bạc đầu thương nhớ/ Những ngày không gặp nhau/ Lòng thuyền đau - rạn vỡ/ Nếu từ giã thuyền rồi/ Biển chỉ còn sóng gió/ Nếu phải cách xa anh/ Em chỉ còn bảo tố”. Với Puskin tình yêu là một sự tình cờ gặp gỡ “Vô tình anh gặp em” để rồi “vô tình thương nhớ”.

Tình yêu trong thơ lãng mạn, bay bổng. Tình yêu trong văn cũng không kém phần đượm tình. Chính tình yêu của Thị Nở đã đánh thức phần người của Chí. Bản chất lương thiện cố hữu làm cho Chí rùng mình khi nghĩ đến rượu, ruột gan nôn nao, “Hắn sợ rượu cũng như những người ốm thường sợ cơm”. Và chính tình yêu làm cho cuộc sống hắn trở nên vui vẻ. Hắn nghe thấy “Tiếng chim hót ngoài kia vui vẻ quá! Có tiếng cười nói của những người đi chợ. Anh thuyền chài gõ mái chèo đuổi cá” trên sông. Đó là những thứ tiếng mà hôm nào cũng có nhưng xã hội thực dân phong kiến đã bóp chết cuộc đời bình thường của hắn, đẩy Chí vào con đường lưu manh hoá, suốt ngày hắn triền miên trong men rượu thì làm sao Chí có thể nghe được những tiếng ấy. Tiếng vọng lại vào tai Chí đó chỉ là những tiếng chó sủa, tiếng chửi từ chính miệng của Chí mà thôi. Tình yêu có sức mạnh diệu kỳ của riêng nó. Tình yêu ấy đã làm cho Thị trông cũng có duyên hơn biết bao “Trông Thị thế mà có duyên. Tình yêu làm cho Thị có duyên”.

Tình yêu muôn hình vạn trạng. Cũng chính vì tình yêu con, Fantine sẵn sàng bán tóc, bán răng để lo cho Cosette; cũng chính vì tình yêu mà biết bao trai trẻ bỏ hết lại sau lưng “giếng nước gốc đa” để ra chiến trận.

Tóm lại một nội dung có thể phản ánh qua nhiều hình thức khác nhau. Và cùng nội dung có thể biểu hiện nhiều hình thức khác nhau.

3.       Kết luận

Bất kỳ một chỉnh thể tác phẩm văn học nghệ thuật nào cũng có mối quan hệ hữu cơ giữa hai mặt cốt lõi là hình thức nghệ thuật (cái biểu đạt) và nội dung tư tưởng (cái được biểu đạt). Nội dung là cuộc sống hiện thực được tái hiện lại bởi thăng hoa nghệ thuật của tác giả, mang đậm phong cách đơn nhất của từng nhà văn, nhà thơ. Hình thức là cách thức thể hiện nội dung. Hình thức là cái thường xuyên biến đổi một cách từ từ để phù hợp với nội dung trong tiến trình văn học. Do đó, hình thức phụ thuộc vào nội dung. Nhưng trong những điều kiện “lịch sử cụ thể, toàn diện và phát triển”, hình thức cũng mang tính độc lập, tương đối, tác động tương trợ, chuyển hoá để thúc đẩy nội dung phát triển hoặc kìm hãm sự phát triển của nội dung. Chung quy lại mục đích cuối cùng là để tạo nên một chỉnh thể tác phẩm văn học mang tầm giá trị cao trong văn học Việt Nam và cả thế giới cần phải có sự hài hoà thống nhất giữa nội dung và hình thức trong mối quan hệ biện chứng.

Abstract:

The literary work is looked from principle of double categorical form and categoriial content

 

The value of literary work does not exist in the velvety sentences, high – fauluting sentence, thorny sentences and must not to be in the theme thinking, the view, the way of looking at life of writer or a past social, or nowaday life; that to be harmonious, unification between methoded art with the decisive content that has the true value and the human culture value. To say otherwise, those are unification in a dialectic manner between the expression (form) and what is expressed(content).

Keyword: categorical content, categorical form, literary work, content of literary work, form or literary work.

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1]. Lê Bảo, Hà Minh Đức, Đỗ Kim Hồi, Nguyễn Hoàng Khùng, Nguyễn Xuân Lạc, Nguyễn Đăng Mạnh, Đoàn Đức Phương,Vũ Anh Tuấn, Trần Thị Băn Thanh, Lã Nhâm Thìn, Trần Khánh Thành, Văn Tâm, Nguyễn Quốc Tuý, Trần Đăng Xuyền, Hoàng Hữu Yên, (2003), Giảng văn Văn học Việt Nam, Nxb giáo dục

[2]. Bộ giáo dục và đào tạo, (2001), phần Văn học Việt Nam, tập một, lớp 11, Nxb Giáo dục.

[3]. Bộ giáo dục và đào tạo, (2002), phần Văn học Việt Nam, tập một, lớp 12, Nxb Giáo dục.

[4]. Phương Lựu, (2006), Lý luận văn học, Nxb Giáo dục.

[5]. Phạm Hậu Thành, (2007), Văn học trung đại Việt Nam thế kỷ XVIII – giữ thế kỷ XIX, đề cương bài giảng.

[6]. PGS.TS. Đoàn Quang Thọ, (2007), Giáo trình triết học Mác Lê nin, Nxb Lý luận chính trị quốc gia, Hà Nội.

 

 

 

 

 

 

 

 

Trương Thị Thu Thanh
Số lần đọc: 770
Ngày đăng: 20.10.2016
[ Trở lại ] [ Tiếp ]
In tác phẩm Góp ý Gửi cho bạn
Cùng thể loại
Hội Nghị Những Người Viết Văn Trẻ Toàn Quốc Lần IX Vẫn Chưa Nhập Cuộc Với Các Trào Lưu Văn Học Hiện Nay - Lê Hưng Tiến
Nho giáo Korea qua tiểu thuyết "Vụ bê bối ở Sung Kyun Kwan" - Trần Xuân Tiến
Sứ điệp văn hóa nơi cuộc sống tha hương - Nguyễn Đăng Trúc
Kính gửi cụ Nguyễn Du "nhân dịp về Hà Tĩnh vào ngày Giỗ lần thứ 196 của đại thi hào (10.8 ÂL) - Nguyễn Anh Tuấn
Lữ Kiều của Huế và một thời Ý Thức. - Hiếu Tân
Mạch văn cấu trúc và lý thuyết phân tích thuộc ngữ ngôn văn chương - Võ Công Liêm
"Bàn tay nhỏ dưới mưa" Bầu lên nhà văn không nhỏ Trương Văn Dân - Paul Nguyễn Hoàng Đức
Nghĩ về “cô điếm lễ độ” Kịch Jean-Paul Sartre: “The Respectful Prostitute” - Hiếu Tân
Bàn tay nhỏ dưới mưa - Đồng cảm, trân trọng và yêu thương! - Lê Thị Thanh Xuân
Tham vọng của Chữ Nghĩa - Võ Công Liêm