Nói về Thơ đương đại có người chia ra nhiều loại : Thơ tư tưởng, thơ trữ tình, thơ ngôn ngữ. Mỗi loại thiên về một yếu tố tạo thành, loại thiên về bộc lộ tư tưởng, loại thiên về biểu hiện tình cảm, loại đặt lên hàng đầu thủ pháp ngôn từ.
Theo truyền thống người ta xem “thơ trữ tình” là “tiếng hát của con tim” gần đây có người đưa ra khái niệm “thơ tư tưởng”(1), gọi một số thi phẩm là thơ tư tưởng để chỉ kiểu thơ nặng về suy lý siêu nghiệm ngoài ra nhiều bài viết còn đưa ra khái niệm “thơ ngôn ngữ”(2), một khái niệm mà lí luận phuơng Tây hiện đại hay nhắc đến . Chưa có thành công nào cụ thể đặc biệt để minh họa cho thành tựu của những loại thơ đó, tuy nhiên trong cảm nhận của người đọc thì trên thi đàn vẫn có một số tác giả, thi phẩm thể nghiệm những mỹ cảm mới mẻ về các kiểu thơ này! Các lí thuyết thường xoay quanh một yếu tính nào đó của thơ rồi minh họa hoặc phản biện.
Trước tiên nói về quan hệ giữa thơ và tư tưởng, tình cảm. Có người đề cao, có người phủ nhận cái gọi là yếu tố “tư tưởng” trong thơ, cho rằng: Bài thơ hiện đại không bị tác giả ràng buộc bằng một “sợi dây ý tưởng” nào cả, nó chỉ là “làn huơng bí ẩn tồn tại thông qua ám ảnh và lan lỏa" của tâm trạng thi sĩ, cho là thơ hiện đại không cần tư tưởng, ý tưởng gì ràng buộc, nó chỉlà sự mông lung của tâm thức, thích gì thì nói, cảm gì thì viết, ngừơi đọc thu nhận đuợc gì, thu nhận ra sao cũng chẳng phải là điều cần thiết lưu tâm!(3 )
Nói về quan hệ giữa thơ và tư tưởng, tình cảm, bao thế kỷ nay người ta đều lưu ý: Thơ thuộc lĩnh vực tình cảm, là tiếng hát cuả con tim, tuy nhiên con tim đó trĩu nặng hơi thở của tư tưởng. Gần chúng ta, Chế Lan Viên cũng khẳng định chiếc “lá thơ” của ông “mang hương thơm tư tưởng” (Hoa trên đá). Bài thơ hay nào mà chẳng chạm đến một vấn đề nhân sinh, chẳng bộc lộ một triết lý sống, tuy nó là sản phẩm của một cao trào tình cảm, nhưng làm gì có bài thơ chỉ là làn hương bí ẩn tỏa ra từ ngọn gió ngôn từ, bất chợt thổi về trong tâm tư. Tư tưởng chính là điểm tựa, là tầm cao cho hình tượng thơ bay lượn. Thơ không là sự minh họa tư tưởng nhưng thơ cần có tư tưởng. Vứt bỏ tư tưởng trong thơ, nguời làm thơ tưởng mình được tự do nhưng thực ra đã vứt bỏ sứ mệnh, vai trò “nhà thơ thiên sứ” để làm một “kẻ hát rong” ngẫu hứng tầm thường. Nhưng không nên lẫn thơ với các loại văn vần thiên về tư tưởng về sự suy ngẫm, chỉ để bộc lộ tư tưởng như các kiểu “kinh, kệ” thuyết giảng giáo lí tôn giáo..." tác phẩm nghệ thuật biểu hiện chân lý, tinh thần dưới hình thức cảm tính về một đối tượng và nhìn thấy ở đối tượng sự biểu hiện thích hợp, trong khi tôn giáo đưa tới sự suy ngẫm [...] Sự suy ngẫm xa lạ với nghệ thuật như vốn có.”( Hêghen - Mỹ học, những vấn đề căn bản - Nxb KHXH Hà Nội 1996,tr297)
Vấn đề tư tưởng liên quan đến nội dung thơ truyền thống, không thể phủ nhận hoàn toàn cái đặc điểm “thi dĩ ngôn chí” khi nói về thi ca truyền thống, thơ mang chí hướng, nhưng nó không là tất cả nội dung phản ánh của thơ, trong thơ truyền thống có biết bao lĩnh vực đời sống mà thơ hướng đến, những nội dung ca ngợi tình yêu trai gái, tình cảm bạn bè,gia đình, những xúc cảm về thiên nhiên, sự khinh bỉ đồng liền, căm ghét thói đạo đức giả... đầy ắp trong các tác phẩm của các tác giả, nhưng nó không thoát ra ngoài cái ảnh hưởng chi phối của tư tưởng, của đạo lý. Đó là cái mạnh những cũng bộc lộ hạn chế, khi gán ghép đồng nhất cái thẩm mỹ của văn chương với những quy phạm đạo đức .
Trong quan niệm thông thường “Thơ tư tưởng” thường xoay quanh việc truyền tải các tư tưởng, triết lý, ý niệm sâu sắc về con người, cuộc sống, xã hội và vũ trụ. Loại thơ này thường mang tính suy tư và triết học.
- Trọng tâm là nội dung tư tưởng chứ không phải cảm xúc cá nhân.
- Thể hiện tầm nhìn lớn, ý thức xã hội hoặc sự chiêm nghiệm về triết lý nhân sinh.
- Cấu trúc thơ thường rõ ràng, chặt chẽ, lời thơ có thể được sử dụng như một phương tiện diễn đạt trí óc hơn là cảm xúc.
Một số tác phẩm của các nhà thơ trong các giai đoạn cách mạng, hoặc một số bài thơ mang thông điệp lớn của các nhà thơ cổ điển như Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Du có những đặc tính này.
Như vậy có thể rút ra nhận xét: Trong thơ có yếu tố tư tưởng như Chế Lan Viên nói đến, nhưng nó không trùng khớp với cái gọi là “thơ tư tưởng”lấy cái nhiệm vụ bộc lộ, truyền bá tư tưởng làm chính. Kiểu thơ này theo chúng tôi xuất hiện ở ta nếu có nhắc tới thì cũng chỉ là một số rất hãn hữu thường phụ thuộc vào tầm tư tưởng nhân cách lớn lao của người viết .
- Một thể loại khác là “Thơ ngôn ngữ”, là một thể loại thơ hoặc cách sáng tác mà ngôn ngữ được đưa lên làm trung tâm, trở thành chủ thể chính, thay vì chỉ là phương tiện để biểu đạt ý nghĩa hoặc cảm xúc. Thơ ngôn ngữ tập trung chính vào bản chất của ngôn ngữ: kết cấu và giá trị của ngôn ngữ, cách từ ngữ xuất hiện, tác động và tương tác với nhau, thay vì nội dung cụ thể hoặc các tư tưởng, tình cảm. Loại thơ này thường có hình thức rất linh hoạt, cấu trúc thơ truyền thống (vần điệu, ngữ nghĩa, cú pháp) đôi khi bị phá vỡ, các từ được đặt trong những ngữ cảnh bất ngờ, tạo ra nhiều tầng ý nghĩa mơ hồ hoặc nhiều cách tiếp nhận.Thơ ngôn ngữ yêu cầu người đọc phải suy ngẫm trực tiếp về ngôn ngữ trong bài thơ, cách ngôn ngữ được tổ chức và ý nghĩa mà nó tạo ra.Thường bị ảnh hưởng bởi các trường phái nghệ thuật, triết học và lý luận ngôn ngữ học có xu hướng hiện đại hoặc hậu hiện đại,
Trên thế giới, kiểu thơ này là đặc trưng của phong trào Thơ ngôn ngữ ( Language Poetry- Hoa Kỳ), phát sinh những năm 1970-1980, với các tác giả mở đầu tiêu biểu như Charles Bernstein, Lyn Hejinian, Ron Silliman…( theo Wikippedia) sau đó lan toả ra nhiều nước.
Ở Việt Nam, thơ ngôn ngữ ít phát triển rõ nét, nhưng có thể tìm thấy dấu vết trong một số làn sóng thơ ảnh hưởng “hậu hiện đại” hoặc thơ "tượng trưng" như thơ của Lê Đạt, Dương Tường, Thanh Tâm Tuyền, Bùi Giáng… xem nhà thơ là “người phu cõng chữ qua cây cầu gập ghềnh của tư duy rồi thả bóng lên trang giấy”. Em về trắng đầy cong khung nhớ… Em đi bóng chữ động chân cầu ( Bóng chữ - Lê Đạt )
Yếu tố ngôn ngữ được nhắc đến trong “thơ trữ tình” và ”thơ tư tưởng” khác “thơ ngôn ngữ”, nó không phải là mục đích,chỉ là phương tiện mà nhà thơ sử dụng để biểu đạt tư tưởng, cảm xúc, nội dung thơ. Nó là một trong các yếu tố nền tảng làm nên đặc trưng thẩm mỹ của thơ, được sử dụng để diễn đạt hình ảnh, ý tưởng, cảm xúc, chứ không phải là trung tâm của ý đồ nghệ thuật như “thơ ngôn ngữ”quan niệm, dẫu thường được chọn lọc kỹ lưỡng thông qua cac kiểu tu từ (nhịp điệu, vần và cách sử dụng hình ảnh) để tạo ra giá trị thẩm mỹ nhằm nổi bật nội dung hoặc chủ đề.
Thơ ngôn ngữ có một lí thuyết phái sinh cực đoan đề cao cái gọi là“siêu ngôn ngữ” ”(4) . Cho rằng việc làm thơ được thực hiện bởi một nội lực văn hóa mãnh liệt trong cảm hứng sáng tạo… Nội lực văn hóa đó xâm nhập như năng luợng cảm hứng của thần linh hay của một thế giới khác, ập đến sẽ biến tư duy thành một tập hợp “siêu ngôn ngữ”.Nhà thơ đi tìm cái hay cái lạ của ngôn ngữ, hình ảnh được tạo nên bởi “siêu ngôn ngữ” đó. Đi đôi với việc đề cao siêu ngôn ngữ, là đề cao cái “tiềm thức”, “vô thức”, “những vùng xoáy tâm linh”, thơ chỉ là cái ám ảnh đâu đó rồi bất ngờ gặp một chi tiết ngẫu nhiên sẽ làm sống lại những khoảnh khắc bí ẩn của cuộc sống, những ám ảnh vô hình lan tỏa từ phía sau ngôn ngữ, tác giả nắm lấy diễn ra thành thơ.
Ngôn ngữ thơ ca không là cái ngẫu nhiên mà có, nó là phương tiện nhưng nó không là thứ phương tiện nằm ngoài mục đích, nó vừa là phương tiện nhưng cũng là mục đích. Nó không là sản phẩm tự nhiên có được từ cảm hứng thần linh mà là sản phẩm của lao động của ý thức. Ý thơ cao rộng, tình thơ sâu sắc chỉ có thể ở trong một ngôn ngữ thơ tinh diệu. Chính vì thế các tác giả mới phải “trót nợ cùng thơ phai chuốt lời” (Lưu Trọng Lư), phải “vò dầu bứt tai như nhà thơ tìm vần” (Tế Hanh), làm hai câu thơ mà phải thôi xao có khi hàng trang giấy ngôn từ (Chế Lan Viên), phải lọc từ hàng tấn quặng ngôn ngữ của đời thường để lấy vài gam ngôn ngữ thơ (Xuân Diệu). Làm thơ là lao dộng vất vả, chứ không phải có thần hứng, ném ngôn ngữ loạn xạ là có bài thơ hay. Chính sự lao động này mơi tạo nên những “thần cú”, “nhãn tự’ mà độc giả đọc lên thấy những con chữ lấp lánh như có hồn. Không có bài thơ hay nào mà không được người đọc nhớ qua câu chữ, qua hình ảnh, nhạc điệu, ngôn ngữ làm nên cái hay cái để nhớ của bài thơ, nằm sau nó là cảm xúc là ý tưởng về cuộc đời chứ không phải chỉ đề dừng lại đó - bóng chữ. Thơ hay không lấy ngôn ngữ làm mục đích mặc dầu nhà thơ lớn nào cũng là bậc thầy về ngôn ngữ! Phục vụ cảm xúc và tư tưởng, ngôn ngữ trong thơ được sáng tạo để khơi gợi các tầng cảm xúc, truyền tải các thông điệp hoặc chiêm nghiệm về đời sống.
Mỗi một quan niệm về thơ hiện đại đều có những yếu tố khả đạt và bất khả đạt, cái cần thiết là rút ra cho được những bài học hữu ích thúc đẩy sự sáng tạo của nhà thơ , đưa đến những món ăn tinh thần hữu ích cho xã hội. Thơ hiện đại phải chăng là sự bộc lộ những cảm nhận về đời sống của con nguời hiện đại trong một hình thức mới mẻ (thể tài, cấu tứ, ngôn ngữ, vần điệu...), tân kỳ nhưng không xa rời truyền thống thẩm mỹ của dân tộc, tạo được sự đồng cảm với người đọc.
Còn về phía người đọc, tiếp cận nhiều kiểu thơ cũng như các cách làm thơ, rất đa dạng nhưng cái điều nổi bật không ngoài lời khuyên của người xưa: Đọc thơ cũng như xem người không dừng ngoài “bì phu”( hình thức) hay nơi “cơ nhục”( tình cảm) mà phải thâm nhập vào “khí côt”( tư tưởng) mới hiểu trọn vẹn, tường tận. Thơ kiểu gì cũng cần nhớ đến người đọc là vậy! /.
---------
( 1)Mikhaïl Bakhtine - Thơ là ngôn ngữ
(2) Bùi Công Thuấn - Đọc thơ Nguyễn Quang Thiều -Ta vẽ mắt nhân loại hình lục giác…
(3),(4) Đỗ Minh Tuấn- Thơ hiện đại sự đày đọa ngôn từ hay là những ám ảnh của siêu ngôn ngữ -Báo Văn nghệ Trẻ- số 23 tháng 5-1996.