Nhân sinh tự cổ thùy vô tử
Lưu thủ đan tâm chiếu hãn thanh
(Văn Thiên Tường)
Trên trang bìa 4, thi tập Đan Tâm, bản dành tặng thân hữu, nhà thơ Phạm Ngọc Lư đã tự giới thiệu: sinh năm 1946 (Bính Tuất), ở Vĩnh Xuyên, Phú Vang, Thừa Thiên; ngụ cư Đà Nẵng từ 1994; cựu sinh viên Viện Hán học và Đại học Văn khoa Huế; bước vào con đường văn chương trong những năm sống và dạy học ở Tuy Hòa trước năm 1975.
Đọc Đan Tâm, tôi thấy một Phạm Ngọc Lư trao thơ một tấc lòng son. Tấc lòng son ấy là cô đơn, là buồn vui một thuở, là nhớ làng vời vợi, là bồi hồi đề thơ.
Trước tiên, trong Đan Tâm là Cô đơn vòi või.
Muôn đời, cô đơn là tâm trạng chung của mọi người, đặc biệt là những người có tâm hồn thơ, có tâm hồn của người chẳng biết ngỏ cùng ai nỗi lòng của mình. Cô đơn làm thức tỉnh hồn thơ của Phạm Ngọc Lư, làm câu chữ bùng lên những khoảnh khắc tuyệt diệu. Giữa bộn bề của cuộc sống đời thường, giữa sự náo nhiệt của cuộc sống phố thị, giữa dòng đời xuôi ngược, tâm hồn thơ của Phạm Ngọc Lư như dòng nước Hàn giang, vẫn là cái lạnh, sâu, vẫn là cô đơn. Cô đơn nhìn trời, nhìn nước, cô đơn nhìn lại chính mình qua những thăng trầm, qua những gian nan, đoạn trường mà chẳng biết tỏ cùng ai:
Trông ra trời nước mơ màng
Giật mình trẩy khúc gian nan qua cầu
Đoạn trường lăn bánh xe đau
Sông Hàn lạnh sông Hàn sâu... im lìm
Sông nào nước xoáy trong tim?
(Quá giang tự vịnh)
Nỗi cô đơn trong hồn thơ của tác giả bật lên tiếng lòng muôn điệu như là tiếng sóng giữa muôn trùng, như là tiếng gió, tiếng mưa. Cô đơn bật thành tiếng giữa bốn mùa, giữa những gì trước mắt và những gì đã qua. Cô đơn là tiếng kêu thống thiết giữa vũ trụ vô cùng thèm nghe vọng trong hồn một tiếng hoàng uyên thuở nọ:
Có tiếng lòng tôi giữa ngàn khơi sóng vỗ
Tiếng gió qua thành xưa
Tiếng mưa về mái cũ
Mà không còn không bao giờ còn nữa
Một tiếng hoàng uyên...
(Vô thanh)
Nỗi cô đơn được tác giả mượn trong điển tích Trương Chi - nhân vật nổi tiếng trong truyện cổ - với mối tình đơn phương đầy đau khổ, thể hiện một cách sâu sắc nỗi cô đơn:
Nghìn đêm sông lạnh trăng mờ
Trương Chi bạc tóc bên bờ Tương giang!
(Thuyền quyên)
Thường thì, người ta mượn rượu để quên nỗi sầu, quên cô đơn. Thế nhưng, đã là cô đơn thì có uống ngàn ly cũng tràn nỗi cô đơn. Càng uống càng cô đơn! Cô đơn vẫn mãi là cô đơn dẫu nhà thơ đối ẩm với sông đời:
Uống nữa ngươi ơi
Một ngàn ly một lần xin cạn
Ấm lạnh sông Hàn ơi!
Chỉ còn ngươi...
Chỉ còn ngươi soi bóng ta thôi
(Túy hoài)
Đọc Đan Tâm, tôi còn bắt gặp nhà thơ cắn răng chịu đựng nỗi cô đơn của mình qua từng câu chữ. Nỗi cô đơn ấy rộng dài theo không gian, thời gian như hòa cùng thiên địa mênh mông:
Sương rơi, đêm cạn, quán tàn
Cô đơn vòi või…trần gian ta ngồi
(Phù dung)
Bên cạnh đó, Đan Tâm là Vui buồn một thuở ngồi đây.
Niềm vui nỗi buồn trong Đan Tâm là kỷ niệm, Tác giả nhớ về những kỷ niệm với người yêu, những buổi hẹn hò trên bến sông, những con đường quen thuộc. Những kỷ niệm ấy hiện lên trong ký ức của tác giả một cách sống động và chân thực. Kỷ niệm ấy dễ gì quên dẫu thời gian đi qua, dẫu cảnh đổi thay, “dẫu lặng khói im sương”. Và lòng thơ vẫn buồn buồn chất Huế như xưa:
Ngày về lặng khói im sương
Về trong Huế mới buồn buồn Huế xưa
(Huế, ngày về)
Nỗi buồn ấy còn là tiếng rơi của ngàn xưa hòa trong lời thơ hòa điệu cùng thiên nhiên. Đó là tiếng buồn rơi rơi trong cõi thơ. Tiếng buồn ấy da diết, vang vọng cõi vô cùng thiên địa:
Bóng thơ hình chữ lay bay
Ấy ai thiên cổ đêm nay xao lòng?
Tiếng ngô đồng...
tiếng ngô đồng
Tiếng ngàn thu trước rơi cùng tiếng thơ
(Tiếng ngô đồng)
Hầu hết, trong Đan Tâm là nỗi buồn. Dù gặp tri âm, tri kỷ, thế mà vẫn những trở trăn về cuộc đời, về thế sự đa đoan, về kiếp người bầm dập như thân Kiều giữa dòng trong đục làm cho hồn thơ dùng dằng giai điệu sầu thương:
Ngồi nghe lưu thủy hành vân
Mây trôi nước chảy… bâng khuâng nhớ nhà
Nghiêng tai: thập lục ngân nga
Ngẩng đầu đụng tiếng tì bà oán, thương
(Dùng dằng nước mây)
Đề thơ tặng bạn khi hết tháng, hết năm, khi mùa xuân sắp đến, thế mà vẫn nỗi đau dằn vặt, vẫn nỗi lòng “tài cao, phận thấp, chí khí uất” (Tản Đà), vẫn nỗi buồn đau của kẻ sĩ bất phùng thời:
Mưa nắng hành cơm khô áo ướt
Tài hoa đau gió dập mây dồi
Thi thư kinh sử… ta hồ mộng!
Tan tác theo vật đổi sao dời.
(Trường dạ khúc)
May mà có bạn tâm giao, may mà thâm tình vẫn còn cùng bạn. Nỗi buồn trong thơ hòa cùng chút vui tương ngộ:
Ba mươi năm… ba mươi năm
Vẫn xanh đôi mắt đăm đăm một thời
Nâng cao bao chén rượu mời
Chén buồn hắt xuống ngàn khơi muôn trùng
Chén vui xin cụng môi hồng
Chén mừng chén tủi tạ lòng trước sau
Kể gì sớm bể chiều dâu
Tấc-lòng-thiên-cổ bạc đầu chưa yên
(Tuy Hòa tái ngộ)
Và có lúc niềm vui chợt lóe bừng như nụ cười của thi nhân khi gặp cái đẹp vĩnh hằng, bắt gặp những phút giây thăng hoa cùng câu chữ. Đó là giây phút vẽ chân dung cô gái trong tranh. Nương theo vẻ đẹp nàng xuân, hồn thơ của tác giả như có chút vui vui:
Em nằm phơi phới với xuân
Mùi hương phương thảo lót lưng mịn màng
Hai bờ cây cỏ hân hoan
Con sông ngây dại rộn ràng vẽ tranh
Vẽ em vẽ cỏ vẽ mình
Thiên nhiên như mộng đa tình chiều xuân
(Đề tranh xuân nữ)
Cũng chút vui vui vì trước cái đẹp, không lẽ lại buồn. Con mắt tinh đời của tác giả như cười nheo trước vẻ đẹp của mỹ nhân, dù là mộng tưởng. Đố ai không vui khi nhìn cái đẹp Trời ban cho con người? Dù là người nghiêm nghị, khó tính đến mấy cũng không thể ngó lơ trước vẻ đẹp của người khác phái. Đố ai không vui khi:
Một nhân ngư giữa biển đời
Đôi chân ảo mộng gọi mời chiêm bao
Gió mềm, cát mịn, sóng xao
Ngân nga tiếng hát thuở nào hồng hoang
Biển trời ơi! chớ lay nàng
Kẻo đài hoa rụng... hồng nhan hết hồng
(Mộng kiến nhân ngư)
Thôi thì, đành vậy! Đời có vui, có buồn, có khác chi có nắng, có mưa, có khác chi tử, sinh, mất, còn:
Vui buồn một thuở ngồi đây
Tri âm một thuở chiều nay mất, còn?
(Giã từ thế kỷ)
Tiếp đến, Đan Tâm còn là Nhớ làng vời vợi xót xa.
Làng là nguồn cội, là cái nôi của gia đình, dòng tộc, là nơi chốn trú ngụ, sống, sinh, là quê hương bản quán gắn bó trong mạch hồn của bao người. Vì thế, xa làng là xa những gì thân thuộc. những gì từng là máu thịt của mình. Xa làng như thế, thử hỏi ai không nhớ? Nhớ làng, dẫu xa làng, thì ai cũng tìm cách về thăm làng cũ. Bởi ở đó một thời có hình-cha-dáng-mẹ bên con. Để rồi, khi tác giả sau 10 năm xa quê, nhớ quê, lại tìm về làng cũ. Chỉ là ký ức quê cảnh một thời. Để rôi, lòng lại nén lòng trước âm ba làng cũ:
Tần ngần ngắm lại lòng ao cũ
Xào xạc hồn quê lá trúc rơi
(Làng cũ)
Chỉ là hoài niệm. Chỉ là tiếc nuối. Vì về thăm quê mà người chẳng biết mà cảnh cũng như thể không hay, dẫu chỉ có mười năm chớ mấy. Nhà hoang, tường xiêu, ngõ vắng. Và người xưa nữa: “Đâu bóng mẹ già sau khung cửa/ Và những người em mặt trái xoan/ Đâu bóng chị hiền như hoa cỏ/ Bên luống cà xanh liếp cải vàng” (Cố lý hành). Trong từng câu chữ như có tiếng kêu thảng thốt: Có ai ở đây không? Có ai biết tôi không? Làng tôi ơi! Cố lý tôi ơi! Có ai biết tôi về lại làng xưa, tìm về cố lý mà chẳng ai biết, chẳng ai hay. Chỉ là nỗi xót xa thương nhớ:
Cố lý mười năm mộng bẽ bàng
Cố lý mười năm ngày trở lại
Như ngày Lưu Nguyễn xuống trần gian!
(Cố lý hành)
Làng xưa đâu biết ai về. Làng cũ đâu nhớ người về. Thế mà, trong hồn thơ Phạm Ngọc Lư vẫn mang mang nỗi nhớ quê, nhớ làng. Chỉ một tiếng ễnh ương trong đêm dài rả rich tiếng mưa cũng đánh thức nỗi nhớ làng, đánh thức hồn thơ rưng rưng theo tiếng mưa đêm, theo tiếng ễnh ương. Đó là tiếng lòng day dứt về nỗi nhớ quê. Ôi! Tiếng lòng nhớ làng thảng thốt. Trằn trọc, khó ngủ bởi nỗi nhớ làng xót xa trào dâng, hồn thơ của Phạm Ngọc Lư thình lình bật dậy tiếng bi thương:
Mấy mươi năm ở phố phường
Đêm nay nghe tiếng ễnh ương nhớ nhà
Nhớ làng vời vợi xót xa
Nhớ quê muôn dặm chắc là đang mưa
Thấm lòng bùn đọng nước chua
Ễnh ương đâu biết tôi vừa… bật kêu!
(Nhớ làng)
Mặt khác, Đan Tâm còn là Rưng rưng bút mực bồi hồi đề thơ.
Cõi lòng tác giả yêu thơ, coi thơ như người tình, coi thơ là tri âm, tri kỷ.
Viết văn, làm thơ thời dạy học ở Tuy Hòa, trước năm 1975, nhiều truyện ngắn như “Sợi khói bay vòng”, “Cây ngọc lan trong vườn”, “Mộng thấy mình đã chết”, “Xóm ven rừng” v.v… đã làm nên tên tuổi Phạm Ngọc Lư bên cạnh bài “Biên cương hành”. Và, qua những lần tâm sự, anh bộc bạch nỗi lòng của mình, rằng, dẫu viết văn hay, nhưng mấy người biết đến. Còn thơ, dễ đi vào tâm hồn người hơn. Và đời người viết văn, làm thơ chỉ cần người đời nhớ tên bài thơ, thậm chí một câu thơ cũng là mãn nguyện rồi. Cho nên, với anh, thơ là tấc lòng son của anh với cuộc đời này.
Để chở tấc lòng son ấy trong thơ, theo tôi, tác giả đã dùng nhiều từ Hán-Việt, nhiều điển tích kết hợp với thể thơ truyền thống mang âm hưởng thơ cổ. Điều đó làm nên chất riêng của Phạm Ngọc Lư.
Này là cái khí khái, cái ngang tàng của người xưa hòa trong hồn thơ son sắt. Này là giọng điệu coi thường cái chết vì nghiệp nghĩa nhân:
Nơi nơi lạnh trăm dòng sông Dịch
Kinh Kha đời nay cả vạn muôn
Há một mình ta xuôi biên tái
“Nhất khứ bất phục phản” là thường!
(Biên cương hành)
Này là hào khí, là sự chịu đựng sự dập vùi của con tạo trêu ngươi. Bầm dập, nổi trôi trong cuộc đời đâu ngăn được lòng son một thuở:
Ô hô!
Thiên địa vô cùng
Uống say mà khóc Đặng Dung - Thuật hoài!
Khóc rồi,
Đập nát cơn say
Hốt nhiên bừng bừng hào khí
Vươn vai nhập thân hào sĩ
Dậm chân nổi gió Đông – Đoài
Cởi chim hồng nhạn mà bay
Theo trăng qua Đằng Vương các
Thâu lại hồ trường nơi biển Bắc
Nhặt lên chén rượu cuối trời Nam
Chơi hết tháng ngày chưa tương đắc
Tung hê cơm áo bất phùng thời
(Túy hoài)
Này là một Phạm Ngọc Lư trải qua nhiều dâu bể của cuộc đời. Cuộc sống bất thường, khó khăn, nhưng nhà thơ lỡ thương em (Nàng Thơ) thì cũng phải cam chịu cảnh đời, ngậm nuốt đớn đau cho cái nghiệp của mình:
Ngậm câm bao tiếng ta hồ
Nuốt sâu tâm sự: Nấm-mồ-thời-gian!
Hắt hiu lòng rụng chí tàn
Thương em ôm cái mơ màng theo tôi
Hôm nay thọ giáo ý Trời
Ngẩn ngơ ngoảnh lại: khuất rồi xuân xanh
(Ngũ thập thất tự tình)
Từng có những bài thơ của người xưa viết trên đá núi lưu danh thiên cổ. Từng có: “Tôi muốn làm nhà văn chân thật/ Đường mật công danh không làm ngọt được lưỡi tôi/ Sét nổ trên đầu không xô tôi ngã/ Bút giấy tôi ai cướp giật đi/ Tôi sẽ dùng dao viết văn trên đá” (Phùng Quán, Lời mẹ dặn). Và, trong Đan Tâm là lòng son câu chữ của nhà thơ khóc mình, khóc đời hòa cùng thiên địa minh mông:
Chiều hôm non nước lặng tờ
Lòng tôi gọt đá đề thơ khóc mình
Đau tay khắc đậm chút tình
Mũi dao là lệ nhân sinh ròng ròng
Ngàn sau hồn chữ rêu phong
Miên man thiên địa… tấc lòng du du…
(Lên núi đề thơ)
Yêu thơ, xem thơ là em, là người tình, là tri kỷ, tri âm. Dẫu như thế, có lúc nhà thơ thấy được lẽ vô thường của số mệnh người làm thơ, cũng như số mệnh thơ: Mai kia đất trời hiu quạnh/ Thơ ta nằm chết trần truồng. Biết là vậy, nhưng tác giả vẫn hy vọng vào một cuộc tái ngộ ở kiếp sau, nơi những nỗi đau, mất mát sẽ được xoa dịu: Mai kia ngàn thu tái ngộ/ Khóc cười kể chuyện khói sương (Ảo mộng).
Dù cuộc đời là cái chi chi, tác giả hy vọng thơ bất tử: Ngày mai lặng lẽ hư không/ Còn chăng... đôi hạt bụi hồng... thơ bay! Lời thơ là lời khẳng định về sức sống của thơ, về sự tồn tại của thơ. Có thể tất cả không còn. Chỉ còn thơ. Tất cả có thể là sự trống vắng, là mất mát, có chăng là sót lại những vần thơ, “còn một chút gì để nhớ để thương” (Vũ Hữu Định).
Nhiều lúc, tôi ngồi một mình, nhớ về những lần trò chuyện cùng anh. Biết anh đã xa cõi trần này nhiều năm rồi. Nên, nhiều khi, tôi thấy anh một mình đề thơ trong cõi vô cùng:
Chỉ còn tôi. Chỉ còn tôi
Rưng rưng bút mực bồi hồi đề thơ
(Chim mộng)
Và, thay lời kết: Trao em một tấc lòng son/ Mai kia bia mộ tâm hồn đề thơ…
Tôi như thấy nhà thơ đang cùng Nàng Thơ tâm tình thủ thỉ. Nhà thơ kể chuyện mình, kể chuyện bè bạn, trải nỗi cô đơn, trải nỗi nhớ làng, cùng biết bao vui buồn của người trần, của kẻ chịu số phận đọa đày. Và hơn hết Phạm Ngọc Lư dâng hiến cả trái tim son cho Nàng Thơ và cùng Nàng dạo quanh những ngôi mộ bên đời chờ ngày phán xét:
Bao nhiêu năm nợ nần nhau
Tình ta trăm bể ngàn dâu héo mòn
Trao em một tấc lòng son
Mai kia bia mộ tâm hồn đề thơ…
(Chỉ còn đan tâm)
Tháng 02/2025