Ủng hộ VCV
Số tác phẩm
30.459 tác phẩm
2.720 tác giả
2.092
141.676.771
 
Trần gian chẳng của riêng ai
Hoàng Xuân Hoạ

                     

Dân làng Dõng mấy ngày nay vui như mở hội, nhà nhà tấp nập, người người hớn hở, bàn thờ nhà nào nhà nấy đều có mâm cỗ cúng, khói hương nghi ngút. Cúng riêng tại gia, cúng ra nhà thờ họ, cúng tạ mả ngoài nghĩa trang mới. Gà, vịt, ngan, ngỗng ơn trời được hoá kiếp sớm hơn trước Tết Nguyên Đán dăm tháng.

            Ông Xóm Đồng hỏi ông Xóm Bãi:

            - Nhà bác chạy 4 ngôi mộ dễ dư ra triệu bạc ấy nhẩy?

            Ông Xóm Bãi mặt tươi hơn hớn:

            - Cũng được ngót nghét chừng ấy. Nhà ông chạy 6 ngôi chắc dư triệu hai triệu ba chứ lại?

            Ông Xóm Đồng:      

            - Các cháu đem xây ngôi nào cũng to cũng cao nên tốn gạch, tốn xi măng thành chả thừa mấy.

            Ông Xóm Bãi:

            - Nhà tôi xây dông xây dài gọi là để giữ nấm ấy mà, có xây to, xây đẹp thì cũng chỉ là cái mả nằm ngoài gò sỏi, khoe với ai mà phải đắp to, xây lớn cho tốn đất Hợp tác xã!

            Nghe mấy lời đối thoại trên kể cũng lạ tai. Đang mồ yên mả ấm ai động rồ đem chạy, xây lại làm gì, vừa tốn kém vừa phát lo vào người? Mà không, nghe họ nói xây mộ xong còn dư tiền ra cơ mà? Vâng, quả có thế thật.

            Chả là thế này:

            Có một anh Việt kiều về thăm quê, không tìm về thẳng làng ngay, mà anh ta tới uỷ ban xã xưng với các cán bộ xã, anh là người làng Dõng. Trong số cán bộ xã có ông người làng Dõng đang ngồi thường trực trên ghế uỷ ban mừng như bắt được của, giơ bàn tay vỗ đánh bịch một cái vào giữa ngực mình:

            - Chính tôi người làng Dõng đây!

            Làm cho các ông uỷ ban khác, ông nào ông ấy tiếc ngẩn tiếc ngơ: "sao tay Việt kiều kia không là người làng mình nhỉ, chán quá đi mất."

            Ông uỷ ban người làng Dõng:

            - Đồng chí họ gì, con ông bà nào trên ta thêêê...ế ?

            - Tôi họ Và, con ông Vẻ. Bố tôi là Và Văn Vẻ.

            Ông người làng Dõng vội điểm nhanh trong đầu: "Họ Nguyễn là một này, họ Bùi là hai này, Trần ba, Võ bốn, Đỗ năm... danh sách xã viên, danh sách thu thóc thuế, sổ theo dõi thuỷ lợi, sổ theo dõi khoán sản hai mươi năm nay ngồi đầu ghế uỷ ban mấy nhiệm kỳ mình nắm chắc như nắm chặt cái thừng trâu, gì ra có nhà nào họ Và? Lạ quá đi mất! Hay tay Việt kiều này hỏi nhầm làng?" Bụng ông ta đã hơi tiêng tiếc và lo lo, nếu “nó” là người làng khác thì sao... kệ,  mày nhầm thì ông được! Ông ta vội reo to:

            - Úi...iii...hì! Họ Và nhà anh ngày xưa nhiều người làm quan to trong triều đình ra phết!

            Nghe thế, anh Việt kiều nghiêng vành mũ phớt che đi nửa nụ cười buồn.

            Sau đó ông uỷ ban người làng Dõng được mời lên xe taxi cùng anh Việt kiều trở về làng Dõng. Vì không biết tay Việt kiều con cháu họ mạc nhà ai trong làng mà dẫn đến, ông uỷ ban đành chỉ đường cho lái xe chở thẳng lên đình. Cụ thủ từ đang vun gốc chuối sau đình nghe thấy tiếng ôtô từ xa nghĩ có khách Hà Nội về lễ, liền buông tay cuốc tất tưởi chạy về mở cửa đình, liền được ông uỷ ban sai tìm chủ tịch hội NCT, mời ban chấp hành cùng các cụ tuổi cao lên đình họp để đón khách Việt kiều về thăm quê hương, cũng là để nhờ các cụ nhớ hộ xem làng Dõng ta nhà nào mang họ Và mà không khai đúng họ? Âm mưu trốn nghĩa vụ công dân đây?

            Cụ nào cụ nấy mặc diện như diện Tết. Các cụ 80 tuổi trở lên đã được hội NCT mừng thọ áo điều, khăn xếp điều đều mặc đủ. Anh Việt kiều thấy toàn các cụ cao niên ra đình đón mình đâm nể quá, bèn nhờ ông uỷ ban và lái xe taxi chạy lên phố huyện đặt nhà hàng dăm mâm cỗ để, trước cúng thánh, sau đãi các bô lão trong làng một bữa tươi để ra mắt các già làng, đồng thời nhận quê hương luôn.

            Trong khi chờ làm cơm, dĩ nhiên là phải uống nước. Không muốn để các cụ uống cái thứ nước trà đặc săn ruột non ruột già, đêm mất ngủ các cụ hành tội cụ bà thì khổ (ấy là anh Việt kiều tưởng giống má các cụ làng ta tốt như giống má mấy anh cu Tây, cu Tàu nên nghĩ vậy). Bèn nhờ người lái xe taixi lái vù đi mua cho mấy thùng bia và nước ngọt về đãi các cụ, vừa chờ nhà hàng mang rượu thịt đến, để vừa trò chuyện vừa tìm cái ngọn ngành gốc, tông tích dòng họ Và của mình ở làng Dõng. Tuy sinh ra bên Tây, nhưng gia đình anh Việt kiều vẫn giữ được đạo nhà, vẫn thờ cúng tổ tiên như ngày ở trong nước. Khi người lái xe mua bia về, anh ta liền mở thùng bia lấy mỗi thứ năm lon đặt lên ban thờ thánh giữa đình; cũng mỗi thứ năm lon đem sang tam bảo bên chùa dâng, cửa đức ông hai thứ ba lon; bên điện thờ mẫu cũng số bia nước ngọt tương tự, làm cho một ông am hiểu việc cúng lễ ghé tai nhau nói nhỏ: "Thằng cha thạo việc lễ bái Việt Nam thế này khéo nó chén thịt chó tốt"! Dâng bia đi cúng đủ các cửa phật cửa thánh xong, trở lại đình để đãi người trần. Cứ lon một, lon một đặt vào từng tay mỗi cụ, rồi mình một lon bật nắp cái bụp giơ cao:

            - Xin chúc sức khoẻ các cụ, chúc ngày về thăm quê cha của con. Mời các cụ cạn ly mừng cho kẻ tha hương trở về đất tổ. Rồi anh ta ngửa cổ uống ừng ực, khi ấy các cụ mới thi nhau bật nắp ừng ực tu theo. Được lon bia mát lành vào bụng, cụ nào cụ nấy thấy tinh thần phấn chấn hẳn lên. Một cụ già nhất làng, đã hưởng ba lần mừng thọ: Năm 80 tuổi: được mừng chiếc áo đỏ. Năm 90: chiếc quần đỏ. Năm 95: chiếc khăn đỏ; chỉ còn 5 năm nữa tròn 100 tuổi cụ sẽ được hội NCT xã mừng đôi hài đỏ nữa là đủ bộ đỏ từ đầu xuống đến chân chờ ngày cưỡi hạc về chốn bồng lai. Sau khi ngắc ngứ hơn mười hụm mới cạn được lon bia, cụ xúng xính trong bộ quần áo đỏ đòng đọc đi tới vòng tay khoác lấy tay anh Việt kiều:

            - Cho lão hỏi thăm, đằng ấy con cái nhà ai ấy nhẩy?

            Anh Việt kiều đang mải tiếp chuyện mấy cụ trẻ hơn liền quay sang cụ nhất kính cẩn:

            - Dạ, kính cụ hỏi thăm, bố cháu tên Vẻ ạ!

            Làm cụ nhất ớ người ra không hiểu, sau đó hết nhìn ra cửa đình lại nhìn lên ban thờ thành hoàng làng đang khói hương nghi ngút để cố moi móc lại trí nhớ về ngày xửa ngày xưa, mãi sau nhớ ra, cụ reo to:

            - Lão nhớ ra rồi, nhớ ra rồi, thì ra anh là con thằng Vẻ, à chết quên, con anh cu Vẻ... à à...thế nào nhỉ?... à... à này, bố anh có khoẻ không, cũng về cùng anh chứ?

            - Dạ thưa... bố cháu vẫn khoẻ ạ! Cháu về trước thăm làng xem thế nào rồi sang đón bố cháu về sau ạ!

            Cụ nhất hào hứng:

            - Quý hoá quá, quý hoá quá! Bố anh xa quê dễ đến sáu chục năm rồi mà vẫn nhớ quê, thật là con người có tâm có đức, biết yêu quê hương đất nước, tốt thật! Quý hóa quá đi mất!

            Một ông đứng gần hỏi xen vào:              

            - Cho tôi hỏi khí không phải, nhà bác tên là gì cơ?

            Anh Việt kiều hai bàn tay chắp vào nhau, đầu cúi cúi lễ phép:

            - Dạ, cháu tên Vang ạ!

            Cụ nhất nghe thấy thế bắt lại mạch chuyện:

            - Úi giời ơi, bố Vẻ, con Vang hèn chi khá giả là phải quà đi chứ!

            Sau bữa cơm trưa ấy với các cụ trên đình làng, Vang được từng cụ mời về thăm nhà riêng. Đến nhà ai cũng có đĩa trầu mời khách. Thấy hay hay Vang ăn một miếng, bị say trầu toát mồ hôi, mệt lử. Là nhà doanh nghiệp nhưng Vang có bằng cử nhân hoá thực vật, Vang nhận ngay thấy trong vị lá trầu có một chất gì đó là lạ có thể sát khuẩn cho răng miệng mà các hãng sản xuất nước súc miệng, kem đánh răng cả ở Việt Nam và trên thế giới đang tìm kiếm chưa ra. Tất cả đều bí rì, vì chưa đâu tìm ra được chất gì toàn bích, nên hãng thì đưa dung dịch muối, tinh dầu chè xanh, vitamin E, Can xi,  Fluor, bột ngọc trai...(?) vào kem đánh răng mà chưa làm người tiêu dùng hài lòng, chưa ngừa được sâu răng, hôi miệng tuyệt đối.

            Chuyến về thăm quế ấy, được ăn những miếng trầu, Vang cảm nhận và nẩy ra ý tưởng chiết xuất tinh dầu từ lá trầu không để pha chế nước xúc miệng và kem  đánh răng cho hãng của mình. Khi trở lại nước cư trú, Vang không đem thứ gì khác, ngoài 20kg lá trầu không xin được từ làng Dõng là hàng hoá được mang theo lên máy bay về nước. Vang chiết được tinh dầu từ lá trầu không và đem  thử nghiệm trên răng miệng nhiều lần đã cho kết quả tốt, rất khả quan. Với thành công ấy Vang bèn đổi ý định, bàn với bố trở về nước làm ăn chứ ở nơi hàn đới băng giá tuyết dày, cây trầu không thể phát triển tốt như ở Việt Nam được. Vả lại lương dân công bên nhà lại rẻ nữa tội gì không về lợi dụng sức lao động của họ...

            Vang trở lại làng Dõng với kế hoạch làm ăn tại quê hương có cả người bố về cùng. Hai cha con mang hai tâm trạng khác nhau. Con thì trong đầu đầy ắp những dự định lớn về làm ăn. Người bố thì về để thăm lại nơi gửi nhờ bọc nhau và thắp cho người mẹ tội nghiệp của mình ba nén hương mà khi vác mẹ đi chôn ông không có nổi.

                                                        ***

Chuyện đã quá lâu rồi, tính theo tuổi ông Việt kiều Và Văn Vẻ có lẽ vào những năm đầu thế kỷ 20. Một phụ nữ bụng mang dạ chửa phiêu giạt đến cánh đồng làng Dõng thì trở dạ đẻ. Những người đang làm đồng thấy vậy bảo nhau ra tay giúp đỡ. Họ bẻ những cành lá và (thứ cây thời đó trồng trên các bờ be làm mốc phân định các ruộng liền kề), làm lều che nắng che mưa trên một gò đất hoang nơi ngôi mộ vô chủ. Người về làng cắt lá chuối khô rải thay giường, người đi mời bà đỡ. Cũng may, người đàn bà ấy dễ sinh nên đẻ mẹ tròn con vuông sau khi bà đỡ can thiệp bằng chuyên môn vài thao tác nhẹ nhàng. Thời ấy tục lệ làng Dõng nhiều thứ kiêng kỵ vô lối. Họ sợ gái đẻ đổ phong long làm cho tay chân trở nên hậu đậu, hay đánh rơi làm vỡ, sợ hãm tài; nuôi lợn: lợn ốm; nuôi tằm: tằm ươn nên mẹ con họ phải đợi đầy tháng thôi nôi mới được vào làng sinh sống. Cùng phận đàn bà với nhau nên những người làm đồng phân công nhau ngày ba bận đem thức ăn ra đồng cho mẹ con họ. Người có quần áo cũ thì của mẹ đem cho mẹ, của con cho con. Một ông tốt bụng vác cho cái chõng tre cũ giúp mẹ con họ không phải nằm đất. Làng Dõng trên hai trăm suất đinh thì cũng có gần hai trăm người vợ, người mẹ là thợ cấy thợ gặt, từng mang nặng đẻ đau để được làm mẹ, nên có từng ấy tình thường gộp lại thì việc cưu mang hai mẹ con họ có đáng gì. Lòng tốt, tình thương của người Dõng không thể chê vào đâu được ấy, lại bị sự đối sử khắt khe đến khắc nghiệt của các bậc chức sắc, cùng những vị trưởng các dòng họ tự cho mình là con ông cháu cha, con dòng cháu giống cao quý hơn người, gây cho mẹ con họ lắm ê chề nhục nhã về thể xác cũng như tinh thần sống để dạ, chết mang theo sang kiếp sau vẫn chưa hoàn hồn.

          Mẹ con họ trở thành dân ngụ cư làng Dõng. Ai thuê việc gì làm việc nấy để kiếm miếng sinh nhai. Thằng bé mới sinh cũng được ông lý trưởng “thương hại” làm cho tờ giấy khai sinh sau khi mẹ nó biếu ông tờ năm đồng gánh dừa (tiền Đông Dương thời ấy) . Ông lý trưởng hỏi họ hỏi tên người mẹ trẻ chỉ nhận được cái lắc đầu "cháu không biết, cháu không nhớ". Vô lý! Người ngợm gì đến họ tên mình cũng không nhớ, không biết? Vâng, nhớ làm gì một quá khứ buồn đau của đời mình đã nếm trải!

          Ở vùng lưu vực sông Hồng, có ngôi làng nhỏ ven sông, đất thì rộng nhà lại thưa, vườn nhà nào nhà ấy cũng hàng mẫu đất bãi trồng toàn tre bao quanh làm phên dậu bảo vệ mỗi cơ ngơi riêng. Từng luỹ tre xanh tốt rủ bóng xuống mặt sông làm duyên làm dáng cho một vùng quê trù phú, ngoài bãi thì tốt mía, xanh dâu, trong đồng đôi vụ mùa, chiêm lúa tốt bời bời. Làng ấy đã từng có cô gái nết na xinh đẹp, môi  đỏ như thoa son, má tươi như đánh phấn hồng, sắp về làm dâu nhà ông chánh tổng người cùng làng. Một buổi trưa vắng cô quẩy đôi thùng ra sông gánh nước bất ngờ gặp chiếc thuyền buôn; ba thằng kéo dây ngược dòng sông trông thấy cô chúng sấn đến, đứa bịt miệng, đứa cởi áo chùm mặt bế thốc cô lên thuyền thay nhau cưỡng hiếp. Làm xong cái việc đồi bại ấy bọn chúng thả cô lên bờ rồi kéo thuyền đi mất. Quá uất hận, cô nhẩy xuống sông tự vẫn. Do sinh sống với sông nước từ nhỏ nên cô bơi lội giỏi, mấy lần buông xuôi tay, chân cho chìm để chết đi cho hết kiếp nạn. Nhưng người cô cứ nổi bềnh lên mặt nước, không chịu chìm cho. Rồi chân tay cô muốn quờ đạp, và cô quờ đạp; một khi còn quờ đạp thì người không thể chìm. Không chìm người được thì sao sặc nước để mà chết. Và cô quyết định không chết nữa. Cô bơi, cô đạp, cô vùng vẫy ngụp xuống ngoi lên trong dòng sông để gột rửa đi sự ô uế nhục nhã, rồi cô quẩy đôi thùng nước về nhà. Chuyện bị cưỡng hiếp cô giấu kín không cho ai biết. Nhưng cái bụng của cô mỗi ngày một to lên thì không thể giấu. Tiếng cô chửa hoang loang ra khắp làng, đến tai ông chánh tổng thì không còn là chuyện nhỏ nữa. Như thế là khinh thị quyền thế nhà ông. Ông Chánh tổng cùng lý trưởng sai trương tuần bắt cha mẹ cô ra đình hành tội, tra khảo việc con họ chửa hoang(!). Cha cô nghĩ nhục lao thẳng đầu vào cửa đình chết tại chỗ. Mẹ cô vì thương chồng lại buồn nỗi con không chồng mà chửa, ngã bệnh mất sau đó ít tháng. Bị họ hàng ghẻ lạnh, làng lại bắt phạt vạ số tiền lớn cô không có nộp, làng đem cô ra đình gọt đầu bôi vôi đóng bè chuối thả trôi sông!  Cái bè chuối trôi xuôi khỏi làng xa xa, một người thuyền chài bơi theo đưa cô lên bờ rồi bảo cô đi nơi khác mà sinh sống, gặp nhà nào hiếm con thì lấy làm vợ lẽ. Cô không theo lời người thuyền chài tốt bụng, cô bẻ đôi chiếc đũa thề trước trời đất, đời cô từ giờ cho tới chết, không thèm chung chạ với đàn ông, dù thằng đó có là vua là chúa, thì cũng đều là giống dâm dê thượng hạng đáng nguyền rủa. Hàng ngày cô cầu trời khấn phật, ước ao sao cho giống đàn ông biến hết khỏi mặt đất này để riêng đàn bà sống với nhau cho người luôn trong trắng, để xống váy được sạch sẽ. Cô đi từ cánh đồng làng nọ sang cánh dồng làng khác, ai thuê việc gì làm việc nấy để kiếm bát cơm độn ngô, độn khoai, sống cho qua ngày. Trưa nghỉ gầm cầu, đêm ngủ lều, ngủ quán, lang thang vô định. Nhiều lúc cô phải bôi than trát gio lên mặt làm xấu đi để những quân dê cụ không còn thấy được sắc đẹp của cô mà thèm chảy dãi dài dãi ngắn. Dần dà cô lạc tới cánh đồng làng Dõng thì trở dạ đẻ.

          Không hiểu sao ông lý trưởng cũng lắm thông tin, biết tường tận cái sự sinh nở của cô từ đầu đến cuối nên ông lấy ngay tên cây Và làm họ, sự đẻ rơi giữa đồng vắng vẻ làm tên. Đầy đủ cả chữ đệm như ta đã biết ở trên. Vẻ lớn lên trong sự khinh miệt của người làng Dõng. Trong làng ngoài xóm hễ ai mất thứ gì họ đều đổ cho Vẻ: "Chỉ có thằng Vẻ lấy chứ ai!" Kẻ quá khích bắt trói Vẻ tra khảo để ép cung, bắt Vẻ phải nhận mình ăn cắp. Mẹ côi con cút, thân cô thế cô, người mẹ khốn khổ đó chỉ còn biết van xin và tự nhận những tội đổ vấy mong họ tha cho con. Có điều lạ là con người Vẻ được cấu thành từ giọt máu của một trong ba kẻ cuồng dâm hung bạo ngày ấy, nhưng Vẻ lại là đứa trẻ ngoan ngoãn không hề có tính tắt mắt cái kim sợi chỉ của ai mà vẫn bị mang tiếng xấu một cách oan ức…

Vừa bước vào tuổi 18 thì người mẹ lâm trọng bệnh và mất. Vẻ bó thi thể mẹ vào cái chiếu cũ vác xuông nghĩa địa làng đang định đào huyệt chôn mẹ thì các dòng họ trong làng kéo nhau xuống không cho Vẻ chôn mẹ gần mồ mả cha ông họ. "Cái con mẹ làm thuê kiêm làm mõ (gặp hôm làng nhiều đám giỗ, đám cưới, vợ chồng nhà mõ đi các đám rửa bát để xin phần, lý trưởng cần mõ đi rao, vợ chồng nhà mõ thuê lại mẹ con Vẻ  rao mõ thay, mẹ con Vẻ cũng làm) thối tha ấy chôn gần mồ mả những dòng họ con dòng cháu giống để xúi quẩy con cháu người ta ra à?" Vẻ đành vác mẹ xuống cái gò Sỏi cuối làng, chọn nơi cao nhất giữa gò, đào vài thép mai đã vướng đá cuội, mảnh sành, mảnh chĩnh lổn ngổn. Đào bật máu tay mới xong cái huyệt. Chôn mẹ xong Vẻ rời làng Dõng ra đi từ ấy.

                                                     ***

          Hôm nay cùng con trai trở lại làng Dõng, Vẻ đã thành ông lão gần 80 tuổi. Ông Vẻ dẫn Vang xuống gò sỏi tìm mộ bà nội. May, ngày đó Vẻ đắp cho mẹ cái mộ to, cao nên mưa nắng bão bùng, cả thờì gian muôn trùng dâu bể không thể dập xoá nổi mộ ấy.

          Khu gò Sỏi ấy HTX trồng chuối, chuối còi, trồng khoai lang, khoai lang không ra củ... hết thanh niên ba sẵn sàng, đến phụ nữ ba đảm đang, đặt quyết tâm cải tạo khu đất ấy thành một mô hình tiên tiến nhất huyện. Bón phân lợn, phân trâu, đạm, lân, ca li mà trồng khoai chỉ ra dải chứ không thấy củ. Sau HTX đem giao cho hội phụ lão trồng bạch đàn đã mấy chục năm rồi vẫn chưa ra bạch cũng chẳng thành đàn nhị sáo kèn gì sất. Một gò bạch đàn còi cọc yếu ớt vươn cao tít, cây chết đứng, cây chết nghiêng cho trẻ con đến bẻ cành về làm củi đun.

          Thăm mộ bà nội xong Vang về làm việc với xã để thuê đất xây dựng cơ sở chiết xuất tinh dầu trầu không. Vang nhất quyết đòi thuê đất nghĩa trang của làng Dõng. Đầu tiên uỷ ban xã và HTX làng Dõng không đồng ý với lý do, các dòng họ đang mồ yên mả đẹp chuyển đi nhỡ động mồ động mả thì sao? Hai bên đối tác họp đi bàn lại mấy lần chưa ngã ngũ. Vang phải vữa doạ vừa gợi ý:

          - Quê hương không bằng lòng cho tôi về làm  ăn thì tôi đành phải tìm sang xã khác hoặc huyện khác vậy. Nếu đồng ý, toàn bộ mồ mả hiện có trên đất tôi xin bồi thường di chuyển, mộ xây năm triệu đồng một ngôi, mộ đất ba triệu đồng một ngôi. Giá đền bù thế là gấp đôi mức giá nhà nước đền bù cho mồ mả ở ngoại thành Hà Nội đấy. Xây dựng nhà xưởng xong tôi sẽ thu nhận lao động là con em của xã nhà vào làm việc. Còn việc di chuyển nghĩa trang làng Dõng đi đâu đang là một băn khoăn của các bác, tôi biết! Cái đó không khó. Việc gì các bác phải nghĩ đến lấy đất ruộng đang canh tác ổn định để chuyển nghĩa trang ra, phí của đi. Khu đất gò sỏi cuối làng kia rộng rãi thế, lâu dài có thể để được hàng ngàn ngôi mộ ấy chứ. Nếu ăn nên làm ra tôi sẽ xin xây tường bao quanh toàn bộ nghĩa trang cho, vì mộ bà nội tôi cũng năm trong đó.

Cứ như là Vang đọc được mọi ý nghĩ của từ cán bộ thôn đến xã, Vang nói đến đâu tất cả há mồm, trố mắt với vẻ hiểu ra. Một ông bảo Vang:

-  Đồng chí thuê cái gò sỏi có hơn không? Thuê gò sỏi sẽ mất ít tiền đền bù hơn?

-  Vang gải thích:

- Thưa các bác, các anh, các chị. Việc làm ăn là cần phải có địa điểm, địa thế. Người Việt Nam ta chẳng có câu tổng kết rất hay rằng: "Thứ nhất cận thị, thứ nhì cận giang" đó sao. Nếu gò sỏi mà ở cạnh đường giao thông thuận tiện thì giữa tôi và các bác chẳng phải bàn nhiều đến tận hôm nay. Theo tôi gò sỏi làm nghĩa trang là hợp nhất. Vừa yên tĩnh vừa xa làng, môi trường không bị ô nhiễm. Các bác nhìn về làng mà xem, ai đi để nghĩa trang cạnh làng thế kia. Ma khô còn được, chôn ma tươi, thịt người phân huỷ nhiễm ra các nguồn nước giếng trong làng, hàng ngày chúng ta uống, ăn thứ nước có lẫn thịt người chết rất hại cho sức khoẻ. Ngay bây giờ các bác ra nghĩa trang mà xem, hàng chục ngôi mộ mới chôn chưa xanh cỏ, vẫn nguyên vòng hoa phủ. Những mộ chôn cách đây hai ba tháng nữa, đang trong thời kỳ phân huỷ. Ở bên kia tôi đọc báo bên nhà gửi sang, viết về việc các nhà khoa học công nghệ & môi trường xét nghiệm mẫu nước cách nghĩa trang Văn Điển trên mười cây số vẫn thấy có váng mỡ người, thế có rợn không? Nếu các bác giữ lại nghĩa trang thì nên di chuyển làng ra xa ít nhất hai ky lô mét mới tạm an toàn cho nguồn nước.

Mấy vị người làng Dõng nghe Vang nói thế, vị nào vị ấy như ngồi phải tổ kiến lửa, giật mình đánh thót.

- Đúng rồi... chuyển nghĩa trang thôi... phải chuyển nghĩa trang ngay…

Mấy ngày sau hợp đồng thuê đất nghĩa trang được trình lên huyện và tỉnh phê duyệt. Vì thế người làng Dõng mới có những ngày di chuyển và xây mồ mả vui như mở hội kể trên.

Để cho người làng Dõng chuyển mộ và xây toàn bộ mộ nhà họ xong, Vang thuê luôn tay kỹ sư đang phụ trách xây dựng nhà xưởng cho mình, thiết kế xây mộ bà nội Vang to cao đẹp nhất vùng. Khi ấy dân làng Dõng nhìn thấy mới té ngửa người, thì mọi sự đã khít như đố khớp vào ngoàm kèo, không thể thay đổi. Mộ bà nội Vang nằm giữa trung tâm nghĩa trang, xung quanh là mấy trăm ngôi mộ xây nhỏ nhoi, xếp hàng như đang phủ phục ngước chầu lên ngôi mộ to giữa gò Sỏi.

          Hóa ra trần gian này chẳng là của riêng ai thật!

                                                           14-4- 1999

                                                            

Hoàng Xuân Hoạ
Số lần đọc: 539
Ngày đăng: 09.06.2025
[ Trở lại ] [ Tiếp ]
In tác phẩm Góp ý Gửi cho bạn
Cùng thể loại
Người mặc áo số không - Hoàng Xuân Hoạ
Bà Trương - Đỗ Nhựt Thư
Cạm bẫy bọc đường - Hoàng Thị Bích Hà
Thủy Tiên buồn. - Đỗ Nguyễn
Sun, Đê bắt chuồn chuồn - Thanh Phương
Thánh y chứng giám - Nguyễn Anh Tuấn
Giọt lệ sau bức tranh cổ - Võ Chí Nhất
Tiền lẻ và tiền tỷ - Nguyễn Anh Tuấn
Về nơi gió cát - Nguyễn Đức Tùng
Chuyện ông già trăm tuổi - Võ Anh Cương
Cùng một tác giả
Miếu Thờ Thần (truyện ngắn)
Máy In Tiền (truyện ngắn)
Con dở người (truyện ngắn)
Cắn (thơ)
Sét đánh pho tượng (truyện ngắn)
Hoạt kế truyện (truyện ngắn)
Ông tiết canh ngan (truyện ngắn)