Ủng hộ VCV
Số tác phẩm
30.459 tác phẩm
2.720 tác giả
1.769
141.691.865
 
Còn đâu bóng cha yêu
Nguyễn Vĩnh Căn

 

Thân tặng người anh rể - Một số phận đầy bất hạnh

           

Dẫu rằng tôi là con gái, nhưng hình như cái mặc cảm Ơ Đíp, con trai yêu mẹ, con gái yêu cha - Thần thoại Tây Phương, không ảnh hưởng đến Đông phương thì phải, hay chi ít là với tôi; Bởi cái vòng kim cô nam nữ thọ thọ bất thân của nho giáo phong kiến đã gần như đóng kín tình cảm của người con gái với người cha mình đã từ bao đời rồi. Phải chăng, đó cũng chỉ là cách để tôi tự bào chữa cho mình?

Tôi không biết mình đã hờ hững, lạnh đạm và thậm chí khinh bỉ ông ấy từ khi nào? Mặc dầu tôi vẫn biết rằng, gần như suốt đời ông ấy luôn vất vả, cực nhọc, đổ mồ hôi sôi nước mắt để đem lại cơm ăn áo mặc, và thậm chí là cho gia đình cuộc sống phồn vinh, có thể là giả tạo. Phải chăng, cái hào nhoáng phù phiếm ăn sang mặc đẹp nơi mẹ tôi, ngày càng làm lu mờ cái vẻ tầm thường hèn kém nơi con người ông ấy?

Ngày di cư vào Nam, tôi vẫn còn bé, để chưa biết được con đường hoạn lộ mà gia đình phải trải qua, nhưng cũng kịp nhận ra cái vất vả bươn chải của ông ấy.

Mỗi sáng tinh mơ, ông ấy thường dậy sớm để lo cho thùng nước lèo nóng sốt khói bốc nghi ngút, rồi đẩy xe đi rao phở khắp hè phố Đức Lợi, Đà Nẵng. Thực ra, điều đó nó chẳng có ý nghĩa gì với tôi lúc ấy. Tôi chỉ biết là mỗi sáng, tôi và gia đình được đánh no những tô phở tái nóng hổi một cách ngon lành. Lúc bấy giờ, thật không dễ mấy gia đình có được.

Và những lần đi bán về, khi có ông ngoại sang chơi - nhà tôi ở gần kề nhà ông ngoại, ông ấy thường khoe với ông tôi: “Ông ơi, bữa ni con bán được bảy tô rồi ông ạ!...Bữa ni con bán được hơn mười tô...”. Ông ấy có vẻ phấn khởi và vui mừng, để chẳng quản ngại gian lao vất vả. Nhưng sau này, tôi biết với số lượng bán được như thế, ông ấy vẫn lạc quan được thì cũng lạ thật. Bởi từng đó tô mỗi sáng, làm sao nuôi sống được gia đình, chẳng những thế mà còn bị lỗ lã nữa là đằng khác.

Và cái lạc quan tếu đó cũng không được lâu. Gia đình tôi liệu bề sinh sống không nổi, phải bán nhà và gom góp được ít tiền đi theo một người bạn vào Nha Trang. Cũng thành phố biển như ở Đà Nẵng, nên chúng tôi chẳng lạ lẫm gì khi thay đổi môi trường sống. Nhưng quả thật, bờ biển Nha Trang đẹp thật. Một cánh cung thoai thoải bờ cát trắng chạy dài, ôm lấy vùng biển trời mầu ngọc bích, dạt sóng lăn tăn dưới ánh nắng mai vàng, trông thật thơ mộng và hùng vĩ.

Ngày ấy, mới tới chưa có công ăn việc làm, ông ấy thường đưa cả gia đình đi tắm mát thỏa thuê vui thú.

Rồi ông ấy cũng phải nhập ngũ. Nhưng cái điều lạ là, ông ấy nhỏ nhắn và thấp bé như thế, mà cũng được nhận vào làm lính Không quân ở phi trường, thật không ai tin nổi. Gia đình tôi chẳng quá bận tâm về điều đó, vì điều quan trọng hơn là, cả nhà có cái ăn cái mặc do lương lính đem lại.

Ông ấy sống bình dị, giản đơn, từ lời ăn tiếng nói mộc mạc chân chất, và thậm chí áo quần tênh toàng những khi ở nhà. Có lẽ, hình ảnh mà thủa nhỏ làm cho tôi thấy ông ấy dễ xem nhất là bộ quân phục Không quân và chiếc mũ cát két, tạo cho ông được một dáng vẻ tươm tất và bề thế hơn cho cái dáng nhỏ con cố hữu của ông ấy.

Trái với ông ấy, mẹ tôi lại ăn mặc chưng diện khá điệu đà, nhưng không se sua, càng tôn lên cái dáng vẻ sang trọng của một quý mệnh phụ phu nhân. Thực ra, mẹ tôi cũng không phải quá công phu và tốn kém để chưng diện gấm vóc lụa là cho thân xác riêng mình. Có lẽ, nhờ cái vóc dáng thon thả với một khuôn mặt khả ái đầy tươi tắn, cộng thêm chút khiếu thẩm mỹ, để mẹ tôi tâng thêm cái dáng đẹp trời cho của bà lên.

Đến bây giờ, mẹ đã vào tuổi 70, tôi thấy mình ăn mặc vẫn thua xa mẹ tôi. Điều đó, đôi khi khiến tôi thầm ghen với bà. Và tôi luôn tự hỏi: phải chăng cái đẹp, cái duyên dáng ấy, đã đẩy xa nghĩa tình vợ chồng, khi người chồng cứ vong thân, để lấm láp trong cái nợ đời cơm áo gạo tiền?

Quả thế, dù là một người lính Không quân, ông ấy cũng không quên tận dụng thời cơ kiếm tiền để khỏa lấp cho cái lương lính khiêm tốn, cho gia đình tám người ăn. Mọi người ngạc nhiên, khi thấy ông đặt một chiếc xe bánh mì, rồi nhờ mẹ tôi chỉ bày cho cách làm nước sốt, quay thịt heo...Mà nấu nướng, vốn là món sở trường của mẹ tôi, nhưng cái khuyết điểm lớn nhất của bà lại rất lười biếng.

Thế là mỗi đêm, một mình ông ấy tất tả cho đến khuya để lo nấu nước sốt, quay thịt, dưa leo, hành ngò...Rồi đóng hộp chở vào phi trường lúc sáng tinh mơ để bán cho lính độc thân ăn sáng.

Ông làm việc âm thầm và chẳng hề ta thán này nọ, nên gia đình vốn đã vô tâm, lại chẳng màng gì tới công sức thức khuya dậy sớm của ông ấy. Thậm chí là chẳng ai hỏi han: “Một mình ba làm sao quay trở kịp để bán bánh mì cho họ?”. Ông ấy làm việc với lòng vui thích hơn là nhiệm vụ bắt ông ấy làm. Còn anh em chúng tôi, chỉ biết buổi trưa ông đem bánh mì thịt tồn kho về là đớp no thoải mái, mà chẳng hề quan tâm đến nỗi cực nhọc vất vả của ông ấy.

Về sau, số học viên không còn học trong phi trường, nên nghề của ông cũng bị mai một. Làm nghề này không được, ông chuyển qua nghề hớt tóc dạo. Thế là ông mua sắm dụng cụ hớt tóc: tông đơ, kéo, dao cạo, xà bông gội, ghế...Sau này nghĩ lại, mới thấy ông ấy quá liều lĩnh, vì ông ấy có biết hớt tóc hớt tiếc gì đâu.

Ngày đầu đưa đồ nghề về, mấy anh em trai phải làm vật tế cho ông học nghề. Húi xong mấy cái đầu, cả nhà nhìn nhau không nín cười được. Những sóng tóc như mái ngói xếp chồng nhau, bên cao bên thấp lởm chởm trông như trộc bến đò. Mẹ tôi đi chợ về cũng không khỏi nhịn cười: “Ông hớt tóc kiểu này, đến con trong nhà mà cũng không trông nổi nữa là hớt cho thiên hạ. Họ bắt đền ông là có đấy!”. Nhưng rồi cái lạc quan đầy tự tin, đã khiến ông liều lĩnh để đi hớt dạo.

Mấy ngày đầu đi về không thấy ông nói năng khoe mẻ chi, gia đình cũng đoán biết, có lẽ ông phải bù lỗ. Nhưng rồi nghề dạy nghề. Hơn một tháng sau, hôm nào về ông cũng khoe: “Mẹ mi ơi! Hôm nay tui làm được ba chục rồi!”. Hay hôm khác: “Bữa nay trúng mánh mẹ mi ạ! Tui được trăm bạc”. Hầu như mẹ tôi và gia đình chẳng mấy quan tâm đến nỗi cực nhọc dãi dầu nắng mưa của ông ấy, để đi hớt dạo khắp hang cùng ngõ hẻm. Trái lại, ông ấy rất phấn khởi để đưa về cho mẹ tôi từng đồng bạc còn rít mồ hôi.

Bây giờ nhớ lại, sao mà thấy thương ông ấy quá! Tại sao khi đó, mình cũng vô tâm như mọi người trong nhà nhỉ?

Mẹ tôi vốn bản tính công thần, những đồng tiền của ông ấy đưa về càng làm cho mẹ tôi thêm biếng nhác trong chợ búa bếp núc. Và thế là con gái một như tôi trong gia đình, phải cáng đáng hết. Vào tuổi mới lớn đang mê chơi mãng nhởi, điều đó, thật không làm tôi dễ chịu chút nào.

Ngày nào, mẹ tôi cũng áo cánh sang trọng, đầu bối, cầm giỏ đi chợ đến trưa về, vất đấy cho tôi rồi lên nằm đọc sách. Thường là những sách đạo: báo Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp, Sống đạo...Thế là tôi lại phải bù đầu vào nấu nướng. Tôi cũng học được một đôi chiêu của mẹ, nên nấu nướng cũng tạm được, nhưng bản tính tôi không thích nấu nướng nên không cầu tiến lắm!

Chiều đến, mẹ tôi lại mặc áo dài đi nhà thờ cho đến tối mới về. Đó cũng là niềm đam mê của mẹ tôi. Tôi không biết nguyên nhân nào khiến cho mẹ tôi đam mê đường tôn giáo như thế? Có người bảo: “Mẹ tôi bị gen tâm thần đàng ngoại, nên việc siêng năng đi nhà thờ, cũng là bệnh si đạo vậy”. Nhưng càng đam mê nhà thờ từng nào, mẹ tôi lại càng bỏ bê việc gia đình từng đó.

Có lần, quá bức xúc về chuyện gia đình, ông ấy đặt vấn đề với mẹ tôi: “Mẹ mi đi nhà thờ cũng phải có giờ có giấc, chứ mà chầu suốt cả ngày, ơn ích đâu không biết, cửa nhà bỏ bê, chuyện coi sóc gia đình cơm nước, áo quần con cái... mẹ mi không màng tới, tưởng đi nhà thờ được cái ơn ích gì?”. Ông ấy chưa nói xong, mẹ tôi đã toáng lên giống như bị chạm phải nọc: “Tôi đi nhà thờ là đẹp lòng Chúa, lòng Mẹ, cho gia đình mình được an vui, chớ mắc mớ gì đến các người. Lẽ ra các người không đi nhà thờ được, các người phải biết ơn tui, để cho gia đình êm ấm yên vui chứ!”. Thế rồi bà bù lu bù loa lên: “Thôi từ nay, tôi đi làm ăn, để cho cha con ông đi nhà thờ, ông có đi được không thì bảo?”. Quả thật, đạo nghĩa ông ấy rất khô khan, có cho vàng, ông ấy cũng không quỳ nổi trong nhà thờ một giờ nữa là...Thế là từ đó về sau, ông không dám lên tiếng can gián, vì sợ chạm đến là mẹ tôi ca cẩm mì nheo suốt ngày.

Gia đình tôi sống như một nhà trọ. Mẹ tôi chỉ biết phục vụ cho chúng tôi những thức ăn ngon bà mua về như để khỏa lấp khoảng trống vắng nhà của bà. Các anh tôi sớm đi khuya về, chẳng biết đi học hay đàn đúm ở đâu, cũng chẳng ai nói năng chi, nên cứ thế mà buông tuồng đàn đúm. Chỉ biết sau đó thi rớt, rồi hai anh tôi phải vào lính không quân như ba tôi. Còn mấy đứa em nhỏ và tôi đang tuổi đi học, nên cứ vô tư trong sự vô trật tự của gia đình.

Lúc đó, tôi cũng chỉ là một cô nữ sinh, thích ăn diện và đàn đúm với bạn bè lông nhông ngoài quán hàng chè cháo...của tuổi mới lớn, nên sự vô tổ chức trong gia đình càng làm cho tôi có điều kiện dễ bay nhảy hơn.

Ba tôi vẫn miệt mài bươn chải. Nghề hớt tóc dạo về sau không còn thịnh nữa, ông chuyển qua nghề xe thồ. Mẹ tôi rất dị ứng với mấy cái nghề hèn kém đó. Bữa nào xe thô ế khách, ông bảo mấy đứa đi câu cá ở suối Thành với ông cho vui. Có bữa đi trổ vó bên cầu Ha ra, hay chùa Tháp Bà... để kiếm mớ cá tôm tép về cải thiện thêm cái ăn trong gia đình. Và những lần đi về, trông người ông ấy lấm láp bùn đen, càng làm cho ông ấy thêm tiều tụy hơn trong cái dáng đen đủi. Có lẽ, chính hình ảnh đó, đã đánh mất cái thiện cảm nơi mẹ tôi và tôi về người cha mình.

Ngày đó, khi tôi chưa kịp bày tỏ sự trìu mến nơi người cha, thì cái đẹp, sự hào nhoáng cuộc đời, đã che lấp cái dung dị tầm thường nơi người cha mình, để tôi nhìn ông ấy không mấy thiện cảm. Vì trông ông ấy lúc nào cũng lùi xùi, áo quần tuềnh toàng, tóc tai rối bù. Cuộc đời ông ấy chỉ đam mê với công việc mà thôi.

Từ đó, ông dần đánh mất cái nhân cách của một người cha mẫu mực, mà theo tôi, ông ấy phải ăn mặc đàng hoàng, chững chạc trong lời ăn tiếng nói, và quan trọng nhất phải là người có quyền uy của một gia trưởng. Rủi thay, khi ông ấy chưa kịp lên tiếng, mẹ tôi đã vùi lấp: “Ông thì biết chi chuyện đời mà lý sự thế thái nhân tình”.

Thực ra, tôi thấy ông ấy không phải là người cù lần, không biết chi chuyện đời như mẹ tôi thường gán cho.  Có thể, vì ông ấy không thích đôi co lằng nhằng với mẹ tôi, nên lâu ngày rồi bị mẹ tôi lấn át, mới phải chịu cảnh đá dằn trên cỏ mà thôi. Có lần, bị đè nén lâu ngày, ức quá, ông ấy phát khùng lên đập vỡ cái tô, mẹ tôi lại ngầu lên ném bát đĩa bay vù vào người ông, khiến ông cũng đành phải bất lực buông xuôi.

Ông ấy sống câm nín, như thu niềm đau vào trong cái vỏ ốc cô đơn, chỉ để duy trì cho cái hạnh phúc êm ấm gia đình. Tôi tự trách cha tôi, phải chi ông ấy bớt cái nhu nhược để căng lên cầm trịch lại cái ngai vị gia trưởng, có thể đời ông đâu đến nổi hèn mạt thế! Phải chi cha tôi bớt tham công tiếc việc để tâm tình trìu mến với anh em chúng tôi, về những gian nan vất vả mà suốt đời ông phải gánh chịu, để mẹ tôi và các anh em tôi biết được những công ơn của người.

Giáo điều dạy: Tay trái làm phúc đừng cho tay phải biết, có lẽ chỉ đúng với tôn giáo mà thôi. Còn cuộc đời, đôi khi phải phô bày, phải chứng tỏ cho mọi người biết và thậm chí còn phải hét vào tai một lũ con vô tâm và mẹ chúng tôi: “Tụi bay không kính trọng tao, chí ít tụi bay cũng phải biết công lao của tao chứ!”. Và thế là bao nhiêu công ơn người như muối bỏ biển. Lâu ngày, mọi người đã xem ông ấy như một người tôi tớ, có nhiệm vụ phải phục dịch mẹ con.

Tôi trách cái hiền lành chứa chấp nhiều nhu nhược, khiến cho ông ấy càng ngày càng trở nên hèn kém trong mắt của mẹ và anh em chúng tôi. Đến nỗi sau này, không có đứa nào mảy may nhỏ giọt nước mắt khi ông ấy nằm xuống. Cái hạnh phúc giả tạo của gia đình này chỉ tạm thời êm ấm, khi của cải vật chất còn phủ lấp được những bất hạnh đang ngấm ngầm dưới mặt nước hồ thu phẳng lặng.

Cái bi kịch của gia đình tôi chưa kịp xẩy ra, may thay, cái ngày giải phóng đã đến, để cuối cùng gia đình tôi phải cùng nhau chạy giặc vào Sài Gòn. Và cái quy luật muôn thuở: khi gặp khó khăn khốn khổ, người ta lại phải kề vai sát cánh nhau để chống đỡ với hoàn cảnh sống.

Lẽ ra, gia đình tôi đã lên tàu bay thoát nạn ra nước ngoài rồi. Nhưng mẹ tôi nhất quyết một hai không chịu đi. Thế là cả nhà đành phải ở lại. Ai cũng tiếc nuối để đánh mất một dịp may hiếm có như thế. Sau này, mấy anh tôi cứ trách cứ mẹ tôi mãi: “Phải chi mẹ quyết định đi, gia đình ta đâu phải khốn khổ như thế này!”. Những gì họ tiếc, chỉ là không được vinh vang phú quý để về nước như các Việt kiều mà thôi. Còn tôi cứ tiếc nuối: phải chi gia đình tôi sang Mỹ, có lẽ, không tan tác như bây giờ.

Nhưng cuộc đời là thế đấy! Muốn hay không muốn nó cứ vẫn trôi đi. Và gia đình tôi không thể nán lại Thành phố với 10 nhân khẩu mà không có nghề cầm tay. Cuối cùng gia đình tôi phải trôi dạt về quê ngoại ở Ban Mê.

Gia đình tôi về định cư một giáo xứ miền quê. Đó là vùng đất đỏ ba gian với cây trồng cà, tiêu, màu mè ...Lần đầu tiên gia đình chúng tôi phải nếm trải gian lao cực nhọc của cái nghề nông dầm mưa dãi nắng, mà trước đó, gia đình tôi ăn trơn mặc trắng và chỉ sống nhờ cậy vào lương tháng và sự bươn chải kiếm thêm của cha tôi. Và hơn lúc nào hết, cái cần cù chịu thương chịu khó của ông ấy, được lúc để phát huy tối đa cái năng lực sẵn có nơi ông ấy.

Chỉ một thời gian ngắn, ông ấy làm nông thuần thục từ cày bừa, cuốc xới, và vun trồng màu mè chẳng thua kém một nông dân nào trong làng. Hình như đời sống nông nghiệp mới là sở trường của ông ấy. Thế là ông ấy ra sức cùng với mấy anh em tôi, lao vào công việc đồng áng. Hết thức khuya đến dậy sớm ra đồng cày xới, tỉa vại, làm quần quật suốt ngày cho kịp thời vụ mưa nắng. Còn mấy anh em tôi, bất đắc dĩ phải làm mà thôi, chứ không mấy ai thích thú làm nghề này cả.

Mẹ tôi rất bức bối khi phải thay đổi môi trường sống. Cuối cùng, bà cũng phải góp tay vào việc ở nhà phơi phong lúa, đậu, lạc...Nhưng rồi có lúc bà lơ đễnh để cả sân lúa, đậu bị trời mưa ướt sũng, khiến cho cha tôi phải sốt ruột để trách cứ: “Bà ở nhà không biết làm chi mà để lúa má mắc mưa như thế? Bà không biết những gian lao nắng mưa vất vả của cha con tôi ngoài đồng áng, để đậu lạc mắc mưa lên mộng như thế này thì còn làm ăn chi nữa?”.

Chưa bao giờ tôi thấy ông ấy bực dọc như thế. Nhưng mẹ tôi cũng không khoan nhượng: “Có ngon thì cha con ông ở nhà mà phơi phong đi”. Thế rồi bà giận bỏ đi mấy ngày nơi nhà chị em, khiến cha tôi cũng phải đành chịu vậy.

Tôi không nhớ rõ, có phải đó là cái nguyên nhân chính để hai người dần xa cách nhau hay không? Nhưng cha tôi ngày một tiều tụy, thân người gầy ốm, tóc tai bù rối, răng vàng khè, người nồng nặc mùi mồ hôi, cáu bẩn, trong khi mẹ tôi cứ ăn mặc sang trọng như một bà hoàng. Hình như cuộc hôn nhân của cha mẹ tôi là một sự kết hợp của hai thái cực trái nghịch nhau?

Nhưng rồi có một đôi điều mà mãi đến nay, tôi mới hiểu ra.

***

Ngày đó, tôi lấy làm lạ:  Tại sao mẹ tôi cứ thường sang nằm ngủ ở phòng tôi, kể cả khi tôi lớn lên vào cấp hai. Có lần, khi tôi còn mơ màng ngủ, bỗng nghe tiếng vật vã, níu kéo xô lấn nhau. Mẹ tôi lên tiếng: “Ông đừng làm ồn kẻo con nó dậy, để từ từ tôi sang phòng ông”. Có lẽ, tuổi dậy thì của tôi đến trễ, nên tôi không hề hay biết chuyện vợ chồng của người lớn.

Lúc bấy giờ, cuộc sống ở nông thôn, nhà tranh vách phên nứa, chỗ ăn nằm không được cách ly kín đáo, tôi lại nằm ở gần phòng mẹ, nên thường chứng kiến cảnh mẹ tôi cự tuyệt ông ấy. Ban đầu tôi ngượng lắm! Nhưng rồi không biết chui đi đâu, nên cũng phải nằm chịu trận. May mà cảnh vợ chồng chung đụng không bao giờ xảy ra ở chỗ nằm của mẹ tôi, nên cũng đỡ kích động làm khổ trí tưởng tượng của tôi.

Những lần như thế, hai người rủ nhau xuống kho lúa. Ở đó có một hòm đựng lúa, với một tấm nắp ván rất lớn. Nhưng rồi càng về sau, tôi càng thấy tội nghiệp ông ấy! Lần nào ông ấy cũng cứ nài nỉ mẹ tôi, nhưng mẹ tôi nhất quyết cự tuyệt. Nhiều lần mẹ tôi đạp văng ông ấy ra ngoài, rồi ông ấy lại lồm cồm bò vào van xin, trông rất thảm hại.

Có lần, ông ấy bổ liều vào ôm lấy mẹ tôi, khiến mẹ tôi la lớn tiếng: “Bớ làng ơi! Có trộm, có trộm!”. Thế là ông ấy phải lẻn về phòng. Mấy anh trai tôi chợt thức giấc, vội vã kẻ dao, người gậy gộc, chạy sùng sục tìm kiếm kẻ trộm, khắp chạn rơm, đến chuồng bò...mà chẳng thấy đâu? Còn tôi thì nằm yên trước cảnh trớ trêu buồn cười, mà lòng buồn vô hạn.

Thật là bi hài!! Tôi không ngờ, mẹ tôi lại lạnh cảm với người chồng như thế. Sau này lấy chồng miền quê, tôi mới biết người ta nói rất đúng: Đa phần người đàn bà miền quê thường sớm lạnh cảm, và thậm chí còn rất dị ứng với chồng nữa.

Bây giờ thì tôi hiểu ra.

***

Ở miền quê, nhà vườn rộng rãi là thế, nhưng việc thiết kế phòng ốc lại rất sơ sài và thậm chí là chật hẹp, lại bị dồn vào một phía để lấy chỗ chứa nông sản cho tiện bề đưa vô đưa ra sân phơi, nên việc chung đụng vợ chồng thường không có điều kiện phòng ốc thông thoáng thoải mái. Thay vào đó là căn phòng tối tăm, chật hẹp, chăn gối hôi hám, mùi ẩm thấp nước mưa tù đọng và mùi phân từ các chuồng heo lùa vào, bảo sao kích thích người đàn bà cảm xúc được.

Trong khi người vợ phải lo hết việc đồng áng đến việc nhà cơm nước, lợn gà, áo quần con cái...đến mệt rã rời, còn hơi sức đâu mà kham nổi chuyện đó nữa. Đã thế, người chồng lại đen đủi, gân guộc, trùng trục làm việc ấy như bản năng của loài động vật, khiến cho người đàn bà cảm thấy mình bị hành hạ tra tấn, hơn là để hưởng thụ trái ngọt ân ái khoái lạc vợ chồng. Đến khi cảm xúc vừa đến, người đàn ông đã thở phè nằm lăn đùng ra, đánh giấc như một đứa trẻ ngủ say, chỉ để lại cho người đàn bà sự nhầy nhùa trống vắng mà thôi. Điều đó khiến cho cả tôi, những lớp người trẻ sau này, mà có khi còn tởm lợm nữa là...

Rồi các anh tôi cũng đến tuổi dựng vợ gã chồng, nhà trống vắng dần. Cha tôi có vẻ mừng hơn khi các anh tôi ra cửa nhà, vì có thể mẹ tôi sẽ dễ dãi với ông ấy chuyện vợ chồng? Nhưng điều đó, thực sự chẳng ảnh hưởng đến mẹ tôi.

Ngày đó, tôi đã là một thiếu nữ đến tuổi dậy thì, nên những chuyện mèo chuột của cha mẹ tôi cũng làm tôi thao thức khó ngủ không ít. Và để cho ông ấy khỏi quấy nhiễu, đêm nào mẹ tôi cũng nằm ngủ chung và ôm cứng lấy tôi. Thế là ông ấy vô phương tiếp cận với mẹ tôi.

Một đêm nọ, tôi nghe tiếng vật vã ở ngoài vườn. Thì ra ông ấy rình mò, chờ cho mẹ tôi đi tiểu dãi là nhào tới ôm lấy, khiến cho mẹ tôi thất thế đành phải chịu trận. Nhưng rồi sau đó mẹ tôi sỉ vả ông ấy đủ điều cực nhục: “Thằng già dâm. Đồ cục súc. Mầy làm tình làm tội tao những hơn nửa đời người rồi mà không chán hả?”. Nhưng ông ấy cứ liều chịu đấm ăn xôi. Mẹ tôi rủa: “Tao đã chiều mày chín mười mặt con rồi, bây giờ già rồi mà mày vẫn không cho tao yên. Đồ khốn nạn. Đồ già dâm rác rưởi”.

Mẹ tôi gần như kinh tởm ông ấy. Lúc đầu, tôi cũng khinh bỉ ông ấy: Có đâu thứ đàn ông đớn hèn để xin xỏ vợ chuyện ân ái như thế, chẳng còn biết liêm sĩ chi nữa. Nhưng về sau, khi lấy chồng, tôi mới biết, chuyện chăn gối của người đàn ông là để họ quân bình cuộc sống. Những lần không cho chồng tôi làm tình, anh ấy cũng hết sức khốn khổ. Những khi đi nhậu nhẹt về, người nồng nặc mùi rượu, khiến cho người đàn bà tởm lợm, nhưng rồi cứ vẫn bị chồng đè ra cưỡng bức đã nứa mới thôi.

Mẹ tôi vẫn ăn trắng mặc trơn, đi đó đây buôn bán vải vóc, quần áo, vàng bạc đá quý cho người làng, nên vẫn có tiền bạc rủng rỉnh. Nhưng bà cũng không quên sáng chiều đi nhà thờ. Tôi tự hỏi: bà đi nhà thờ mà về chửi mắng, cự tuyệt chồng như thế thì được ơn ích gì?

Trong gia đình tôi, hầu như ai cũng nghiêng tình cảm về phía mẹ tôi, ngay cả tôi nữa. Cũng dễ hiểu thôi, bởi người giữ đồng tiền và chi phối trong gia đình vẫn là mẹ tôi. Mà mẹ tôi lại ăn tiêu mua sắm áo quần cho con cái rất hào phóng rộng rãi, bảo ai không thích. Nhưng đâu ai biết rằng, chính cha tôi mới là người kiếm ra tiền. Nhưng bất hạnh thay, ông ấy lại quá lo lắng cho nỗi ăn tiêu trong gia đình, để thường cằn nhằn khi mẹ tôi tiêu xài hoang phí, và nhất là khắt khe với con cái trong việc tiền bạc. Điều đó vô tình làm tuôn chảy tình cảm của con cái về phía mẹ tôi.

Và cái hậu quả “hết mưa hết nước” đã làm thâm thủng ngân sách gia đình, người cha phải lo chạy vạy nơi này, nơi kia về cho mẹ con ăn xài, mà nào có ai hay biết. Bây giờ tôi mới thấy, thật là bất công cho ông ấy!

Ngày đó, khi hai người căng thẳng với nhau thì tôi đã đi lấy chồng, một người ở trong làng. Tôi cũng phải lo cuộc sống cho chồng con, nên tôi rất ít biết những xáo trộn trong gia đình của ba mẹ tôi. Gia đình mẹ tôi khi đó, mấy đứa em cũng đã phiêu dạt lên thành phố làm ăn, nên chỉ còn lại đứa nhỏ sau với ông bà nữa mà thôi.

Bữa nào ông ấy đi làm nương rẫy, thì gia đình êm ắng. Nhưng hễ ông ấy bước chân về nhà là mẹ tôi cứ kiếm chuyện sói xỉa gây sự ông ấy. Ông ấy phải bấm bụng sống như câm điếc, chỉ để cho gia đình êm thắm. Nhưng rồi mẹ tôi thấy ông ấy không đáp trả, càng bực tức điên tiết lên. Có khi xông vào hành hung ông ấy, khiến ông ấy phải xô mẹ tôi ra. Và khi bà bị té ngã, liền lớn tiếng kêu la rùm beng làng xóm đến. Hình như chuyện gây gổ trong nhà tôi, làng xóm cũng quen dần, để chẳng mấy ai quan tâm chạy đến.

Nhưng rồi có lần mẹ tôi lấy dao chém ông ấy, cả xóm phải đến can gián. Ông ấy máu me đầy người, nhưng vẫn nhẫn nại cam chịu. Có lẽ, đó là lần đầu tiên tôi có được chút cảm xúc để thương hại ông ấy. Và tôi biết, chính mình đã góp phần vào làm cho mẹ tôi can cường bạc đãi ông ấy.

Biết thế không ở được với mẹ tôi, ông ấy đành phải cuốn gói với mấy bộ đồ nhàu nát rồi vào miền Nam với người bà con bên đàng ngoại. Mãi sau này tôi mới có tin tức về ông ấy.

***

Ngày ông ra đi, tôi không hề hay biết, nên trong thâm tâm tôi cảm thấy ân hận, vì lẽ ra, là con gái, tôi phải trìu mến, quan tâm ông ấy hơn mấy anh tôi mới phải. Thực ra, với con cái ông ấy chẳng có điều gì xung khắc, vì tính ông ấy vốn hiền lành và xoàng xĩnh. Nếu để chê trách ông ấy, có chăng chỉ là cái bệnh lười biếng tắm gội, áo quần tuênh toàng.

Điều này, lẽ ra, chính tôi và mẹ tôi phải quan tâm để chăm chút giặt giũ áo quần, tạo điều kiện cho ông ấy tắm gội thì ông ấy đâu có ăn dơ ở bẩn như thế. Rồi cái tính cam của, khiến cho ông ấy hay vặt mắt, lấy trái bơ, trái mít ngoài đồng của người ta về, cũng lắm khi mang tai tiếng với dân làng. Nhưng nghĩ cho cùng, ông ấy lấy về cũng chỉ đem về cho gia đình, chứ có ăn riêng cho ông ấy đâu.

Cuộc sống trôi đi trong nhọc nhằn với người nông dân vào thời kỳ quá độ đó, để không ai còn thời giờ lo nghĩ cho người khác. Mẹ tôi đã bán căn nhà ở miền quê, để lên phố mua đất vườn cà phê và một căn hộ ở thành phố. Các anh tôi cũng đã làm ăn nên nổi. Có đứa em làm ăn phất lên thành đại gia. Có người anh buôn bán bất động sản, phố xá cả dãy. Nhưng rồi mạnh ai nấy sống. Có một điều lạ là, mẹ tôi luôn vun xới bù đắp cho các anh em tôi là thế, nhưng trong mấy anh em tôi chẳng ai cam mẹ tôi, kể cả con gái độc nhất như tôi.

Bây giờ khôn lớn ra đời, tôi thấy ông ấy thực sự đáng thương hơn là đáng khinh ghét. Nhưng rồi mẹ tôi đã gieo rắc cái mầm xấu về ông ấy trong tâm tưởng con cái, khiến cho sau này lớn lên, anh em tôi đều khinh ghét ông ấy.

Chuyện ông ấy bỏ nhà đi, đến tai cậu cả - anh mẹ tôi. Cậu đã lên tận Xuân Sơn, Bà Rịa, Vũng Tàu để xem cảnh cha tôi làm ăn thế nào? Sau này cậu tôi kể lại: “Cậu cảm thấy bức xúc, khi cả đoàn con cái làm ăn giàu sang như thế, mà để người cha phải tha phương cầu thực, một mình một bóng ở nơi đất khách quê người. Một túp lều tranh, nằm ở ngoài đồng không mông quạnh, lỡ khi cơn trời hơi gió thì biết cậy nhờ ai”. Cậu tôi thấy tội nghiệp ông ấy quá, nên dàn xếp cho ông ấy về nhà sum họp.

Đến người cha mình mà cả đàn con không biết xót thương, mà để cho người ngoài bức xúc, thật là một lũ con vô tâm và bất hiếu đến dường nào!?

Ông ấy nghe lời cậu cả, để về sum họp với gia đình. Nhưng rồi sự kết hợp đó không vì nghĩa, cũng không vì tình, nên đã chẳng chóng thì chầy cũng đã chia lìa. Cậu cả tôi nghe chuyện, lấy làm hối tiếc lắm, vì tưởng là đem lại sự đoàn tụ êm ấm gia đình, ai ngờ sự việc lại càng tồi tệ hơn lúc trước. Cậu tôi cảm thấy hối tiếc: “Biết thế, cậu đã để ông ấy ở trong Xuân Sơn cho yên bề rồi”.

Tôi biết trước là ông ấy không thể ở nổi với mẹ tôi. Một cái loa phóng thanh cứ ngày này qua ngày nọ, rỉa rói, chi chiết đủ điều trong gia đình, bảo sao ông ấy sống cho nổi. Biết không thể ở được với mẹ tôi, ông vào dựng một căn lều trong vườn rẫy ở Eakao.

Thế là từ đó, ông sống ẩn dật, âm thầm một mình một bóng ở chốn nương rẫy. Ông siêng năng cần cù lao động, nên chẳng ai phải lo cái ăn cái uống cho ông ấy. Vườn cà phê chỉ có mấy sào, nên ông khá nhàn rỗi, vì thế ông chạy xe thồ để kiếm thêm thu nhập. Có lẽ, cũng chính từ đây, mà ông ấy phát sinh chuyện tình cảm để đèo bồng lăng nhăng chăng?

Nhưng tôi lấy làm lạ, mẹ tôi vốn ghét cay ghét đắng ông ấy là thế, nhưng khi nghe tin ông ấy cặp kè cô này, bà khác, mẹ tôi lại nhảy cẫng lên ghen tức. Tôi không hiểu nổi tâm lý của bà ấy? Hay là trâu cột ghét trâu ăn? Không ăn được thì đạp cho đổ? Thế là mẹ tôi nhờ hết đứa này đến đứa kia đi dò la, kiểm chứng có phải ông cặp bồ hay không?

Quả thật, số ông ấy xem vậy mà đào hoa ra phết. Hết con mẹ buôn gà, tuổi chưa bằng con thứ hai ông ấy. Ban đầu, ai cũng nghĩ là con bé chài mồi dựa thân ông. Nhưng đời ông, trên răng dưới cà tút thì có chi mà nhờ cậy. Một thời gian sau, ông lại sống với một ả bán nhôm nhựa, có đâu đứa con, sau lại bỏ nhau.

Rồi ông lại cặp với bà bán hàng chạy chợ, nghe đâu là em gái ông thôn trưởng. Sau đó có với nhau một đứa con trai. Tiếng là bà nhưng cũng còn trẻ chán. Mỗi lần nghe ông cặp bà nào mới, mẹ tôi lại lồng lộn lên chửi bới ra vẻ căm tức ông ấy lắm! Cuối cùng mẹ tôi xuống rẫy nương, để tống cổ ông ấy ra khỏi căn lều và lấy lại rẫy cà phê cho đã cơn tức.

Tôi thầm nghĩ: mẹ đã căm ghét ông ấy thì mặc xác ông ấy đi, chứ để ý đến làm chi cho khổ tâm. Hay mẹ tôi nghĩ, ông ấy làm như thế là xúc phạm đến mẹ tôi? Có thể mẹ tôi ghen với mấy cô bồ còn trẻ đẹp hơn mẹ? Có lẽ, bà không ngờ sức vóc tiều tụy hom hem như ông ấy, mà cũng có thể tán tỉnh được những cô bồ trẻ đẹp?

Còn anh em tôi thì quá vô tâm, để chẳng còn đếm xỉa gì ông ấy nữa. Hình như trong tâm tưởng mỗi người anh em chúng tôi, người cha ấy đã không còn tồn tại trên cõi đời này. Kể cả những khi cưới hỏi, ra cửa nhà cho con cái cháu chắt, ông ấy cũng không được mời tới dự. Nhưng rồi không biết nghe đâu, ông ấy ăn mặc tươm tất, cầm phong thư tới chúc mừng. Còn anh em tôi, đứa nào cũng ra mặt ghét bỏ, khinh bỉ ông ấy lắm.

Nhất là sau những vụ ông ấy cặp bà này đến bà kia, khiến anh em tôi như bị bôi tro trát trấu với bà con họ hàng, càng làm chúng tôi căm giận ông ấy hơn. Sự ghẻ lạnh ra mặt như thế, khiến ông cay đắng để lẳng lặng ra về khi nào, chẳng ai quan tâm. Đã thế, mẹ tôi còn xúi mấy anh tôi: “Tống cổ thằng cha ấy về cho rảnh mắt đi mấy đứa”. Tưởng còn nỗi tủi nhục nào hơn cho một người cha nữa!?

Và tôi nghĩ, đã có sự quả báo nhãn tiền cho anh em chúng tôi rồi. Chỉ chưa đầy hai năm, mà ba cái đại tang trong gia đình tôi. Bắt đầu là cái chết của vợ anh cả tôi, với căn bệnh nan y vô phương cứu chữa. Chưa đến sáu tháng sau, chồng tôi lại bất ngờ ngã bệnh qua đời. Một năm sau, em trai tôi cũng chết tai nạn thảm hại. Nghĩa tử nghĩa tận là thế, mà không ai báo tin cho ông ấy hay. Nhưng ông ấy nghe tin, đến chịu tang thức khuya canh xác, trông rất cảm động.

Ngày chồng tôi chết, ông ấy an ủi tôi: “Thôi con ạ! số phận đã an bài như thế, con có khóc cũng không cứu lại được anh ấy nữa đâu. Con hãy cố gắng vượt qua thương đau, để giữ gìn sức khoẻ mà nuôi con cái”. Nghe những lời ông ấy nói tôi càng xúc động hơn. Trời ơi! một người cha mà tôi hằng khinh ghét, thế mà người vẫn thân thương vỗ về, an ủi tôi trong lúc ngặt nghèo.

Khi người em trai tôi chết, ông đã khóc thương cảm rất thảm thiết! Tôi không ngờ, trong sự khinh bỉ, ghét bỏ của đàn con mà trái tim ông vẫn dạt dào yêu thương như thế.

Chuyện ông ấy tằng tịu với bà này bà kia, khiến đàng họ ngoại mẹ tôi và họ nội ông ấy cũng rất xấu hổ cho dòng họ khi có một người bêu xấu như vậy. Hơn nữa, ông ấy là người Công giáo, vợ chưa chết, mà tằng tịu hết bà này và bà nọ, đối với một giáo xứ miền quê, không ai chấp nhận được. Mẹ tôi được thế hát giọng dạ: “Đó, bây giờ các người đã trắng mắt ra chưa. Lúc trước tôi nói thì mấy người không tin, cứ cho ông ấy là chân chất mộc mạc, mà trách cứ tôi thế này thế nọ”.

Trong tâm tưởng bà con họ hàng nội ngoại, hình như đã xoá sổ ông ấy ra khỏi dòng họ. Những lần lễ tết hay chầu lượt, ông ấy ghé thăm họ hàng, cũng nhận được sự khinh miệt ra mặt, để rồi sau này, ông không bao giờ dám về lại làng quê họ hàng nữa.

Ngày ông ấy mất, chẳng có ai thân thích để xuống tống táng ông cho phải đạo làm người: nghĩa tử là nghĩa tận. Ngay cả anh em tôi, khi nghe tin ông ấy đau nặng hấp hối, tất cả cũng chỉ thờ ơ vô cảm như nghe tin một người xa lạ nào, để chẳng đứa nào xuống thăm ông ấy.

Còn tôi vẫn miệt mài ở miền quê nên không hay biết. Nhưng tôi tự trách mình: lẽ ra, mình phải quan tâm hơn, để xuống thăm ông ấy một đôi lần mới phải. Hình như sự vô cảm lâu ngày, khiến cho tâm hồn tôi trở nên cứng cỏi, chai đá, để dẫu biết rằng: ông ấy hoàn toàn đáng thương, và sự vô tâm của mình là một sự tệ bạc bất hiếu, nhưng rồi tôi cứ lần lựa tháng ngày, để chưa tới thăm nhà ông ấy một lần nào, cho biết ông sống khốn khổ ra làm sao?

Nhưng theo tôi, mọi người đã không công bằng khi xét đoán ông ấy. Bởi gia đình, vợ con đã phụ bạc và xua đuổi ông ấy, ông mới phải rơi vào hoàn cảnh ngặt nghèo dâu bể đó. Rồi ông cũng phải nghĩ đến cuộc sống của ông ấy nữa chứ!  Khi cơn trời hơi gió giữa đồng không mông quạnh, khi tối trời cắn nước biết kêu nhờ vào ai đây. Thành ra chuyện cặp bà này, lấy bà nọ... là một giải pháp tình thế cho cuộc sống.

Xét về khía cạnh cuộc đời, cũng chẳng có chi là sai trái. Trong khi người ta quên rằng: chính mẹ tôi mới là nguyên nhân đưa đẩy ông đến hoàn cảnh như thế. Ngay cả trong đời sống hôn nhân, mẹ tôi vẫn lỗi bổn phận người vợ trong vấn đề chăn gối tình dục. Ông ấy đòi hỏi chăn gối với vợ mình là điều rất chính đáng, kể cả phép đạo, chứ chưa nói đến luật đời.

Mẹ tôi ích kỷ để yêu cái thân xác nõn nà thơm tho của mình, để không muốn đồng cảm với người chồng đã chung sống hơn nửa đời người rồi. Tại sao bà ấy lại không thể hy sinh thêm một ít nữa, cho cuộc sống vợ chồng êm đẹp lúc cuối đời?

Con người ta ai cũng ích kỷ khi thân phận mình êm ấm, để bắt người khác phải tuân theo đạo đức, giới luật này nọ, nhưng không ai chịu đứng trong hoàn cảnh ngặt nghèo của ông ấy để chia sẻ nỗi niềm và thông cảm cho của ông ấy. Đành rằng, ông ấy làm điều đó là thiếu sai với giáo luật, nhưng rồi gặp thời thế, thế thời phải thế, chứ thâm tâm ông ấy, có lẽ chẳng bao giờ muốn thế. Ông ấy đã rơi vào một ngõ bí, để không có quyền chọn lựa?

Tôi nghĩ sau này: mẹ tôi chết được lên thiên đàng và ông ấy phải xuống hỏa ngục, lẽ nào, Chúa tôi lại đoán phạt oan sai cho ông ấy? Chính mẹ và anh em chúng tôi đã đun đẩy cha tôi đến bước đường cùng khốn nạn như thế.

Người vợ sau của cha tôi, đưa tôi ra thăm nấm mộ, mà nước mắt bà ấy vẫn sướt mướt, rạn rụa. Một người vợ, chỉ mới được mười mấy năm chung sống, mà nghĩa tình thắm thiết như thế; Vậy mà chúng tôi, sống cả đời với người, mà không có được mảy may xúc cảm, quả là vô tâm bội nghĩa với cha mình!!??

Qua một đổi đường quanh co, lên ngọn đồi. Một ngôi mộ đắp ụ đất thô sơ, nằm lẻ loi giữa đồng hoang quạnh quẽ. Những nén hương còn phảng phất hương khói, không đủ ấm áp cho một linh hồn chết lẻ loi trong cái giá lạnh của một ngày mùa đông. Một cây thánh giá khẳng khiu bằng cây gỗ thô sơ cắm trên mộ chí, không biết có đủ lòng thành để được cứu rỗi cho người chăng?

Nhìn ngôi mộ quạnh quẽ, tôi cảm thấy cảm cảnh muốn trào nước mắt, nhưng rồi tôi không khóc nổi. Bởi nếu khóc được, chính tôi sẽ phải tự nguyền rủa mình: đồ giả dối, mầy chỉ nhỏ những giọt nước mắt cá sấu mà thôi. Tại sao trước đây mầy không thương xót ông ấy đi, để khi không còn ông ấy nữa, mầy mới bày tỏ cảm xúc, liệu có ích gì?

Nhưng rồi khi cầm tờ giấy trong tay mà bà vợ ông ấy trao lại, tôi không cầm nổi nước mắt, khi đọc những dòng chữ thành khẩn của cha tôi: “Mình ơi! Xin mình hãy tha thứ cho tôi. Các con ơi! Xin các con hãy tha thứ cho thầy, để thầy ra đi được thanh thản bình an. Thuý ơi! thầy thương con lắm! Số con cũng bất hạnh thay khi chồng chết, mà con hãy còn son trẻ! Thầy rất cảm thông nỗi niềm với con, nhưng không thể giúp gì được cho con được”.

Bất giác tôi quỳ sụp xuống và oà khóc: “Thầy ơi!”. Bao nhiêu nỗi niềm tiếc nuối tràn dâng trong tôi. Dường như nguồn mạch cảm xúc bao năm đã khô cạn, nay chợt thức giấc ùa về, để tôi bật khóc tức tưởi. Có lẽ, đây là lần đầu tiên, tôi đã khóc thương cảm được cho người. Nhưng tất cả đều đã quá muộn màng phải không thầy?

Tôi tự nói với lòng mình: “Thầy ơi! Thầy không có tội tình gì với chúng con đâu. Nhưng chính chúng con mới là những người có tội, vì đã đun đẩy thầy đến một bến bờ dâu bể, để thầy phải chết trong lẻ loi thảm hại như thế! Con mong Chúa sẽ rủ lòng lân tuất, để sớm đưa thầy về sưởi ấm bên Ngài. Ở đó, Ngài sẽ lau sạch nước mắt tủi nhục, mà chính chúng con đã gây ra cho thầy bao đắng cay nhục nhằn khi ở trần gian”.

Tôi thờ thẫn bước ra về.

Bầu trời chợt nắng hanh vàng lan tỏa không gian, như để sưởi ấm cho một linh hồn yên ngủ nơi quạnh quẽ này. Nhưng trong tâm hồn tôi cứ mãi day dứt: Vì còn đâu bóng cha yêu, để con tạ lỗi và đáp đền chút hiếu nghĩa với cha nữa!!! 

 

Châu Sơn 19/02/2008

 

Nguyễn Vĩnh Căn
Số lần đọc: 1092
Ngày đăng: 28.08.2025
[ Trở lại ] [ Tiếp ]
In tác phẩm Góp ý Gửi cho bạn
Cùng thể loại
Hương dừa - Nguyễn Đại Duẫn
Mộng làm văn sĩ - Tiểu Lục Thần Phong
Đứa con lầm lỡ - Hoàng Thị Bích Hà
Chí phèo đi dự Festival (Phần II) - Hoàng Xuân Hoạ
Đội chiếu phim lưu động - Thanh Phương
Giá của sự thái quá - Đặng Xuân Xuyến
Ngôi trường nhỏ (*) - Phan Tấn Uẩn
Những cuộc tình chớp nhoáng - Hoàng Thị Bích Hà
Và tôi mắc nợ* - Võ Anh Cương
Thủy Tiên buồn (phần cuối) - Đỗ Nguyễn
Cùng một tác giả
Khát vọng sống (truyện ngắn)
Chạm đến tâm linh (truyện ngắn)
Chuyện của Dần (truyện ngắn)
Đôi mắt ấy… (truyện ngắn)
Luỵ đời (truyện ngắn)
Gã ngố ! (truyện ngắn)
Một mảnh đời… (truyện ngắn)
Đời gia sư (truyện ngắn)
Đồ đểu! (truyện ngắn)
Trò đùa số phận (truyện ngắn)
Ngỡ như giấc mơ (truyện ngắn)
Cuộc đời mẹ Monica (truyện ngắn)
Sau mười năm... (truyện ngắn)
Mẹ tôi (truyện ngắn)
Mê cảm (truyện ngắn)
Một số phận (truyện ngắn)
Vượt vũ môn (truyện ngắn)
Còn đâu bóng cha yêu (truyện ngắn)
Tuyệt vọng!!! (truyện ngắn)