1. Lời nói đầu.
Cho đến giờ tôi vẫn gọi địa danh Sơn Chà chớ không gọi là Sơn Trà mà sau năm 1975 các văn bản hành chánh nhà nước đều gọi vậy. Bởi Sơn Chà đã gắn bó với tôi từ lâu, từ thời thơ ấu cho đến mãi sau này. Trước năm 1975, bản đồ địa chính cộng hòa đều gọi là Bán đảo Sơn Chà, trường tôi học là trường Bồ Đề Sơn Chà, xe khách ghi tuyến đường Sơn Chà – Đà Nẵng mà tôi đón xe đi học hằng ngày, làm sao tôi quên được. Sau cùng tôi xin tặng các bạn trường Bồ Đề Sơn Chà ngày xưa bài hồi ký này nhằm ôn lại kỷ niệm buồn vui thời học trò, được vậy là tôi vui mừng lắm.
2. Người Mỹ đến Tiên Sa, Sơn Chà, Đà Nẵng đầu tiên.
Người Mỹ tham chiến tại Việt Nam năm 1965 (kết thúc năm 1975), họ đến cảng Tiên Sa, Sơn Chà lập căn cứ đầu tiên. Nhà tôi trước quốc lộ, cách doanh trại Tiên Sa (Camp Tien Sa) gần đâu một cây số chớ mấy, tại đây là ngã 3, hướng tây ra cảng Tiên Sa, hướng đông đối diện là thị tứ Sơn Chà, hướng nam bắc là đường quốc lộ, vô tình tôi sống gần với người Mỹ nhất. Giai đoạn đầu: Hằng ngày xe cộ chở lính Mỹ, hàng hóa, quân trang, kiện hàng ăn uống từ tàu dương hạm đậu cảng Tiên Sa đi đến các doanh trại Mỹ khắp nơi trong miền Nam, xe chạy rầm rầm ngày đêm không ngớt. Giai đoạn tiếp theo: Người Mỹ làm công tác dân vận ở các xã phường, họ lập trạm y tế nhằm khám bệnh cho người dân, bệnh nặng thì họ chuyển lên tuyến trên chửa trị, không tốn tiền. Khác với lính chiến đấu cầm súng, gọi họ là lính tâm lý chiến có vẻ đúng hơn, hoặc gọi chung là người Mỹ cũng được.
3. Người Mỹ sinh hoạt cùng với dân làng Mân Quang tôi.
Mới đến họ làm quen dân làng, chiêu mộ chừng bốn, năm em con trai choai choai, ban ngày đến trạm Mỹ sinh hoạt, ăn uống với người Mỹ thân thiện, họ bày các em cùng chơi các môn thể thao như bóng đá, bóng chuyền, bóng ném ô liu môn họ thích nhất. Có những buổi trưa họ cõng một bạn nhỏ ngồi trên vai đi bắn chim xung quanh xã, ông Mỹ hướng dẫn bạn nhỏ ấy cầm súng bi ngắm nghía chính xác con chim đậu trên cành đa, chuẩn bị bóp cò, trúng thì ông Mỹ chạy tới lượm con chim bị thương về xức thuốc, sau đó thả chim bay đi, còn nếu chết ổng đào hố chôn nó chớ không vứt bậy bạ trong vườn. Khi cậu bé bắn trúng con chim rơi xuống đất mọi người cười vang. Lúc này người Mỹ phát động phong trào vệ sinh công cộng (VSCC) cho dân làng Mân Quang, chính lúc này các bạn nhỏ sống chung với Mỹ sẽ là tấm gương của phong trào VSCC này. Người Mỹ rất thực tế, họ không nói nhiều về lý thuyết mà bằng các yếu tố trực quan sinh động, như hàng tuần thì có xe chiếu phim đến làng Mân Quang chiếu chủ đề VSCC cho dân làng xem, đa số là phim hoạt hình, chẳng hạn chiếu bác nông dân cầm trái bắp ăn mà không rửa tay sạch sẽ, vi trùng (màu đen) liền bao quanh trái bắp đen thui, nhìn thấy gớm òm. Hoặc chiếu phim em bé thức dậy tự rửa mặt, đánh răng, sau đó ăn sáng gọn gàng ngăn nắp. Hoặc em bé đi học cũng rủ con mèo, con chó, con hưu cùng đi đến trường, hoạt cảnh rất đẹp và dễ thương. Thích nhất là xem phim hoạt hình Tom-Jerry, phim Vịt Donald vui tươi, thông minh và nhân bản.
4. Hôm đó tôi tới trạm y tế khám mụn ghẻ ở chân.
Trạm y tế Mân Quang khám bệnh người dân cả ngày cả đêm nếu yêu cầu, bất cứ ai tới, không cần giấy giới thiệu cơ quan chi cả. Hôm đó tôi tới trạm y tế khám bệnh một mình, gặp ông bác sĩ Mỹ, tôi đưa cẳng bên phải có cái mụn lở loét, thúi ình cho ổng coi, coi xong ổng nói xí xô xí xào với thông dịch viên (người Việt) một hồi, không ngờ lát sau có hai người cầm băng ca tới cho tôi nằm rồi khiêng vô trạm y tế phía trong. Nằm trên băng ca tôi hồi hộp lắm, ước chi trước đó tôi ở nhà trớt cho rồi, chớ để ông Mỹ khám bệnh sinh ra rắc rối lo âu thêm. Vào trong phòng y tế, tôi ngồi trên giường trải dza màu trắng, hai chân thòng xuống đất, ông Mỹ đặt thau nước màu tím sát trùng dưới chân, kẹp miếng bông gòn tẩm thuốc, ổng chà lên mụn tôi tẩy rửa kỹ càng, sau đó ổng thay nước sát trùng mấy lần rồi rửa tiếp. Thiệt tình nói ra thì dị òm, cái mụn chân tôi lở to bằng đầu ngón chân cái, nước mủ nước nhờn chảy ra hôi hám thúi òm, chẳng qua cả ngày tôi ham chơi ngoài đường, bắn bi, chơi tổng, bịt mắt bắt dê, tối đi ngủ không rửa ráy để nguyên chân cẳng đen xì lên giường “khò khò” tới sáng hi. Vậy mà ông bác sĩ khám bệnh cho tôi rất chăm chú, ổng cầm cái kẹp sát trùng gở từng miếng vẩy mụn nằm sắp lớp với nhau, lòi thịt đỏ tươi ra luôn, nước mủ không ra nữa, lúc này tôi đau rát hít hà. Sau cùng ông bác sĩ rắc thuốc bột povidine lên mụn tôi, băng bó kỹ càng. Lúc này ổng đưa tay chỉ chỏ “sleep, sleep”, tôi biết là hãy nằm nghỉ, tôi liền nằm xuống giường nghỉ ngơi, trong lúc ông bác sĩ ghi chép toa thuốc, hẹn ngày mai tới thay băng ở chân (thông dịch viên giải thích). Nhưng ngày mai tôi không đến vì thấy mụn khô lành hết rồi. Khi “xuất viện”, ông bác sĩ cho tôi ổ bánh mì ngọt, một hộp kẹo sô cô la, con Vịt Donald bằng cao su nữa, đã thiệt. Phải nói người Mỹ rất thực tế, làm việc gì họ cũng làm đến nơi đến chốn, mình gọi là tự giác, đáng quý.
5. Hãng thầu RMK Mỹ.
Cảng Tiên Sa, quận ba Sơn Chà có hãng thầu RMK lớn nhất thế giới, hãng này bao thầu tất cả các công trình xây dựng, các dịch vụ ăn uống cho lính Mỹ từ A đến Z, do đó khi lính Mỹ tới Việt Nam thì hãng thầu cũng có mặt đồng thời. Đến Việt Nam hãng thầu tuyển người Việt vào làm rất đông, chủ yếu các dịch vụ dọn dẹp, ăn uống cho người Mỹ, do đó đời sống kinh tế bấy giờ phát triển lên. Hãng chiêu mộ nhiều thành phần lao động từ thông dịch viên, kỹ sư, bác sĩ, lái xe đến người có nghề nghiệp phổ thông đơn giản như thợ nề, thợ mộc, thợ xây v.v… Đông nhất vẫn là các dịch vụ nấu ăn, dọn dẹp hàng ngày trong các doanh trại như Camp Tien Sa chẳng hạn, gọi chung là làm sở Mỹ. Các vùng nông thôn gần Đà Nẵng, người dân các nơi đều ra Sơn Chà xin việc làm đông lắm. Nhà tôi cũng vậy, các bà con ở Hội An tới nhà tôi ở nhờ để làm sở Mỹ, chẳng hạn hai cậu tôi có nghề thợ mộc thợ nề, được hãng thầu RMK nhận vào làm việc theo hợp đồng thời hạn (qua thông dịch viên tuyển chọn, hoàn toàn không có lệ phí), các cậu đóng bàn, đóng ghế, giường cá nhân theo tiêu chuẩn đặt ra, tiền lương khấm khá.
6. Các công trình hãng RMK xây dựng tại Sơn Chà.
Tôi nhớ đại khái như vầy, từ Tiên Sa - Sơn Chà đến Đà Nẵng, hãng thầu RMK xây dựng các công trình quy mô như sau:
- Xây dựng đường quốc lộ 1A, bắt đầu từ Tiên Sa – Sơn Chà qua Đà Nẵng thay đường Pháp nhỏ hẹp không đáp nhu cầu giao thông.
- Xây dựng hệ thống điện đường chiếu sáng từ Tiên Sa tới Non Nước, Đà Nẵng dọc quốc lộ IA.
- Xây dựng hệ thống ống nước ngầm từ núi Sơn Chà chạy theo quốc lộ IA, cung cấp nước sinh hoạt cho các doanh trại Mỹ khắp nơi.
- Xây dựng tuyến cáp ngầm thông tin dọc theo quốc lộ IA lên tới trạm Rada núi Sơn Chà.
Tóm lại, các công trình thi công theo hướng liên kết với nhau, đào đường một lần và lấp đất một lần, không có chuyện đào xới lần sau. Phải nói người Mỹ tính toán kỹ càng.
7. Đứng xem người Mỹ thi công làm đường thật hấp dẫn.
Mê nhất là coi làm đường, họ thi công toàn máy móc hiện đại tới giờ mới thấy. Nhà tôi ở trước đường nên đứng coi miết thôi. Trước hết tôi thấy ông kỹ sư Mỹ nhảy xuống hố dùng máy khoan, máy đục, đục tản đá bự chác bên đường làm cản trở xe đào đất chạy phía sau (xe đào đất chạy theo đường thẳng gần với đường cái) . Ông kỹ sự giật máy nổ làm máy khoan rung chuyển kêu rầm rầm liên tục, xong ổng đưa mũi khoan vào tảng đá khoan một đường dài làm tản đá vỡ ra làm hai, xong ông tiếp tục tới chỗ khác khoan tiếp, lúc này xe cẩu tới chở tản đá bể đi đến chỗ khác (được biết về sau tản đá sẽ xay tiếp thành viên đá nhỏ), cuối cùng không còn vật chướng ngại, xe đào đất tiếp tục đào tới liền kề. Kể rõ, xe đào đất thi công theo dây chuyền liên kết tự động, xe vừa đào hố (sâu một mét) xe vừa chuyền đất lên trên rồi hất đất ra ngoài bằng tấm cao su quây tròn liên tục. Lúc này ông Mỹ khoan đá bắt đầu thấy nóng nực, ổng mở cúc áo trước ngực phành ra cho mát mẻ, mồ hôi đổ xuống lộp độp, sẳn đói bụng ổng ngoạm ổ mì sandwich, uống lon cô-ca từ xe hơi kế bên mang tới “ực ực” tại chỗ, sau đó ổng tiếp tục khoan đá chẳng nói với ai lời nào, chủ yếu công việc chớ không sa vào bàn phiếm.
Bắt đầu lúc xế chiều, có chiếc xe vệ sinh quét đường (có chuổi tròn quay dưới bụng xe) chạy trên đường quét bụi bặm, kèm với hệ thống vòi phun nước tưới nước xuống mặt đường làm cho sạch sẻ sau một ngày xe cộ qua lại. Tiếp theo là xe phun muỗi, hể nghe tiếng “vù vù” từ xa là xe phun muỗi tới gần, xe vừa chạy vừa đưa vòi phun ra hai bên đường vào nhà dân hai bên, nước phun là thuốc diệt muỗi, nước phun có màu trắng kèm theo mùi hôi nồng nàn, muỗi mòng chết hết. Có lần nhà tôi đang ăn cơm chiều bỗng có chiếc xe phun muỗi chạy ngang, lúc này cả nhà đều chịu đựng hôi hám lát sau mới hết. Sẳn dịp xin kể chuyện vui vẻ là gặp ông Mỹ làm đường. Trưa hôm đó có hai ông Mỹ vô trước sân nhà bác Ước (kế nhà tôi) ngồi nghỉ trưa (thực ra họ đang coi ngó thi công làm đường), bọn con nít chúng tôi liền chạy tới coi thử mấy ông kỹ sư Mỹ ra răng. Mới tới là chúng tôi quen liền, mọi người bắt đầu đùa giỡn với nhau. Một ông hả miệng móc hàm răng giả ra hù dọa bọn nhỏ, mới đầu bọn tui cảm thấy sợ sệt, trông giống ông Mỹ ni có phép chi đây, đang trẻ măng bỗng thành ông già móm miệng hi… Lát sau ổng gắn hàm răng vô lại trong miệng, thế là bọn tôi ôm bụng cười sặc sụa đã đời. Nghe nói người Mỹ ưa ăn đồ lạnh nên sớm rụng răng chăng, chắc vậy.
8. Lễ Giáng Sinh.
Một hôm tôi đi học tới trường Bồ Đề Sơn Chà một mình trên đường quốc lộ, đang đi tự nhiên có chiếc xe Mỹ phía sau chạy qua ném quà xuống đường lủ khủ tặng tôi, toàn là bánh, kẹo, socola bao bì bắt mắt rãi khắp đường, tôi chỉ lượm một ít vì đang đi học, còn lại để người sau tới nhặt, nhiều quá mà, trong khi ngày mai mới tới ngày lễ giáng sinh, chắc ông Mỹ mô đó cho quà giáng sinh sớm, đủ biết lễ Noel đối với người Mỹ là rất quan trọng. Đúng vậy, ngày hôm sau là lễ Noel, buổi chiều trước nhà tôi nhìn ra đường có một chiếc xe mui trần phô trương hình ảnh Mẹ Maria và Đức Giêsu lộng lẩy, xe chạy chậm, có ông già Noel đứng trên xe chào vui vẻ mọi người, xe bóp còi in in, mở máy hát bài Jingle Bells chộn rộn vui tươi, xe đi tới đâu ông già Noel cũng ném quà xuống đường tặng mọi người, đủ thứ bánh kẹo lạ lẩm, ai cũng lượm quà không phân biệt tôn giáo. Về sau, các thanh niên biến tấu bài hát Jingle Bells qua lời Việt hài hước, vui nhộn, sự hội nhập văn hóa Mỹ cực kỳ nhanh:
“Bà già nắm tay ông già
Hai người dắt ra bờ sông
Chuông Noel. Din gơ beo
Chuông Noel. Din gơ beo
Ông già hun bà (già) miệng móm
Chuông Noel. Din gơ beo
Chuông Noel. Din gơ beo
Bà già hun ông (già) rụng răng
Chúc mừng”!
9. Phát sinh những bãi rác trong thành phố Đà Nẵng.
Thực tế các doanh trại Mỹ như Tiên Sa, Sơn Chà, sân bay Non Nước, lính Mỹ ở rất đông, nhu cầu ăn uống hằng ngày phát sinh những bãi rác khổng lồ, do vậy xe chở rác đem đi đổ ở vị trí nào đó, lâu ngày rác chất cao như núi. Trong rác ngoài đồ ăn uống thừa còn có những vật dụng mà lính Mỹ không dùng nữa bỏ đi (do lính cũ chuyển đi, lính mời về nên phát sinh), những thứ như tủ đựng cá nhân, soong nồi dày cộm, thùng hộp đựng vật liệu đủ loại, đủ thứ. Những bãi rác nổi tiếng như bãi rác Cầu Đỏ bên Đà Nẵng. Bên Sơn Chà là những bãi rác như Non Nước, Tiên Sa, Mân Quang, đài Rada trên núi v.v...
10. Lượm rác Mỹ.
Chỗ tôi ở có bãi rác Mân Quang và bãi rác Tiên Sa là quy mô nhất, các xe đổ rác thay phiên chạy cả ngày lẩn đêm. Riêng đài Rada có lính Mỹ ở, xe đổ rác đổ trên núi luôn nên ít người tới lượm vì xa xôi, nhưng rác đài Rada cũng đặc biệt lắm, trong rác thường có các đồ gia dụng điện tử, máy móc bán dẫn hư hỏng chút xíu là đổ, nếu sửa lại thì dùng rất tốt. Hồi học trường Bồ Đề Sơn Chà, giờ ra chơi bạn tôi kể rằng bạn từng lượm rác trên núi gần đài Rada, một lần bạn nhặt được con búp bê tự động, ấn nút búp bê nói xí xô xí xào rất thích, nhưng tay chân có chỗ không còn,
bạn phải tìm kỹ đống rác mới thấy tay chân ráp lại. Tôi đoán hình như ông Mỹ bị stress chi đây, do nhớ vợ nhớ con, uống say nên ổng bẻ gãy chân tay búp bê cho bớt nhớ chăng? Tóm lại, các bãi rác tại Sơn Chà là “trù phú” nhất so với những chỗ khác, lý do người Mỹ đóng quân ở đây trước tiên.
11. Người lượm rác chuyên nghiệp.
Sở dĩ nói vậy bởi người lượm rác “chuyên nghiệp” suốt ngày họ ở tại bãi rác, đến chiều tối họ mới thay phiên người khác tới (người trong nhà) chờ canh xe đổ rác vào ban đêm, buổi trưa họ cơm ăn tại chỗ, lượm được thứ gì có giá thì họ tới tiệm hàng hóa bán lại kiếm tiền, đa số là các hộp thùng gia dụng có giá trị, sau đó là các lon đồ hộp. Trong rác thường có các hộp bánh, sôcola, đồ hộp do lính Mỹ ăn uống dư thừa, nhiều nhất là hộp B1, B2, B3 (Hộp B1, B2, B3 giống nhau về khối lượng nhưng khác nhau về hương vị, chẳng hạn hộp B1 trong đó có gói cà phê sữa, hộp thịt cừu, hộp bánh mì tráng miệng, gói thuốc (mười điếu) hiệu Marlboro. Còn hộp B2 thì có gói cà phê đen, lon thịt heo nấu với đậu ve, lon xúc xích, phong kẹo singum tráng miệng, gói thuốc hiệu Salem có mùi the... Nói chung hộp B1, B2, B3 là để lính Mỹ chọn lựa ăn uống theo sở thích cá nhân. Riêng ngày thứ bảy, chủ nhật hoặc ngày lễ, xe đổ rác đổ toàn thứ phong phú hơn ngày thường. Nào là thịt thà, heo gà quấn trong giấy bạc còn đông lạnh, những két bia lùn uống không hết còn lở cở trong thùng. Lý do ngày lễ hay chủ nhật, các doanh trại Mỹ đều tổ chức ca hát, nhảy đầm. Nói rõ hơn, người Mỹ gồm có lính Mỹ, chuyên gia, nhà thầu, kỹ sư, ca sĩ Mỹ, ca sĩ Việt, các thông dịch viên, người phục vụ bưng dọn, nấu ăn hết thảy.
Thích nhất ăn sáng đi học, tôi ăn bánh mì sanwitt với lon đậu phụng nhỏ nhắn, lấy dao mở “kịch, kịch, kịch” lon đậu phụng khưi nắp ra. Phải nói bánh mì quệt đậu phụng dẻo đeo ngon tuyệt chiêu, ghiền.
12. Lý do Mỹ không cho người mình mang đồ ăn về nhà.
Vì nhà tôi ở gần Tiên Sa và Camp Tien Sa, đồng thời có người làm sở Mỹ nên tôi biết được bộ phận hậu cần cung cấp đồ ăn cho lính Mỹ hằng ngày gồm thịt thà và bánh trái cho nhà bếp nấu nướng, sau đó chia phần cho từng người, từng bộ phận (đó là chưa kể những người làm dịch vụ bưng dọn, nấu nướng rất đông). Nhưng thực tế có một số người Mỹ đi chơi hoặc làm gì đó bên ngoài, họ không ăn nên dư ra là đương nhiên (họ không báo cắt cơm như mình). Nhưng nguyên tắc của Mỹ là đồ ăn dư thừa phải bỏ vào thùng rác đem đổ, không để lại trong bếp, cấm ai mang về nhà. Ban đầu tôi là lãng phí nhưng về sau mới hiểu nguyên tắc này là đúng đắn, nếu để người làm mang về nhà thì sẽ xảy ra dành dựt mất trật tự, từ đó sẽ có hiện tượng dấu diếm ăn cắp, ăn trộm xấu xa, Mỹ biết trước như vậy nên họ cấm mang về là đúng, mặc dù ai cũng tiếc của. Buổi chiều tan sở, người làm sở Mỹ ra về đi qua cổng trước doanh trại Camp Tien Sa, bộ phận kiểm tra (người Mỹ) sẽ kiểm soát từng người một, họ kiểm tra các túi xách, áo quần người làm khả nghi, nếu phát hiện Mỹ sẽ ghi vào sổ đen cá nhân người đó, xử lý sau.
13. Trốn nhà tôi đi lượm rác.
Nhớ lại hồi học lớp đệ thất tôi ham chơi lười học (lên đệ tứ tôi mới siêng năng học hành lại). Một hôm tôi trốn nhà lượm rác ở bãi rác Mân Quang gần nhà tôi. Tới bãi rác tôi thấy mọi người cứ lao nhao lúc nhúc trên chiến trường (rác) như đàn kiến vỡ tổ, khi xe rác chạy tới, mọi người liền bám theo xe beng giống như cảnh phim du thực đang xảy ra. Một nhóm người trèo lên xe beng hất các thứ đồ ăn, vật dụng ngon nhất xuống dưới đất, phía dưới có người cùng phe gôm hàng lại. Khi xe bắt đầu cất beng (cất cẩu), rác rến trên xe đổ xuống ào ào, mọi người xúm tới đông nghịt tranh dành bới rác. Nói thật lúc này tôi không dám tới, đứng đàng xa nhìn xe beng đổ rác cho nó lành, xí nữa lượm sau người ta cũng được. Về sau má tôi biết được tôi đi lượm rác (do má đi bán hằng ngày), má để ý thấy da tôi đen thui đen thít, tóc tai quăn đỏ vì dang nắng, bả nổi tam bành la tôi một mớ đã đời, tôi cảm thấy nhột nhột quê quê, từ đó tôi không dám đi lượm rác nữa.
14. Mỹ xây dựng đài Ra đa trên núi Sơn Chà.
Thật là chính xác khi người Mỹ gọi Núi Sơn Chà là Monkey Mountain – Núi Khỉ. Do môi trường thổ nhưỡng tại đây, núi Sơn Chà có nhiều loài linh trưởng như khỉ, vọc, chà vá, vượn rất nhiều, đa dạng hơn so với các vùng khác. Đứng trên núi người ta có thể nghe tiếng khịt khịt, chuyền cây, nhảy nhót, leo trèo của đàn khỉ nào đó rất gần, làm ta có cảm giác núi rừng Sơn Chà vừa hoang sơ vừa thân thiện. Do vị trí chiếc lược khi đến Việt Nam, trước tiên người Mỹ xây dựng đài Rada trên đỉnh núi Sơn Chà nhằm theo dõi tình hình thế giới bằng sóng vô tuyến. Từ nhà tôi nhìn lên đỉnh núi thì thấy hai tấm chảo bắt sóng chỉa ra ngoài to đùng, hai tấm chảo này có nhiệm vụ bắt sóng viba sau đó phân tích dữ liệu rất hiện đại. Để lên đài Rada, người Mỹ làm con đường quanh co từ dưới đất lên đỉnh núi Sơn Chà. Hằng ngày trên đỉnh núi, những áng mây bồng bềnh che khuất đài Rada, lát sau những áng mây bay đi, đài Rada hiện rõ trở lại. Những ai từng ở Sơn Chà sau này đi xa đều nhớ về hình ảnh đài Rada này cả, dù chiến tranh hay hòa bình, nó đã trở thành biểu tượng của ký ức. Trở lại, người ta ví đài Rada Sơn Chà là “hai con mắt thần” Đông Dương, thực tế là rất đúng với góc nhìn khoa học. Hai con mắt điện tử là hai chảo bắt sóng vi ba có thể dò sóng đến tận Hải Nam Trung Quốc, nghe vậy ai cũng ưng hết trơn.
15. Sơn Chà thời chiến tranh.
Từ khi người Mỹ hiện diện ở Tiên Sa - Sơn Chà, tôi có cảm giác đời sống nơi đây bắt đầu trở nên xô bồ, gấp gáp hơn trước nhiều lần, có thể nói đó là biểu hiện sự phát triển của Đà Nẵng nói chung, trong đó có Sơn Chà nói riêng. Mặc khác lúc này người dân thôn quê ra Đà Nẵng - Sơn Chà làm ăn càng ngày càng đông đúc, việc làm phát triển nhất là người dân đi làm sở Mỹ thịnh hành. Như vậy có thể nói nền kinh tế của miền Nam được vận hành phát triển theo quy luật cung cầu, hoàn toàn hợp lý với xã hội tư bản tự do, tôi nghĩ vậy. Tại Sơn Chà cuộc sống người dân bắt đầu khấm khá lên, làng Sơn Chà trở thành thị tứ phồn vinh thấy rõ. Dọc theo hai bên đường là các cửa tiệm hàng hóa, tiệm bán xe đạp, xe honda, tiệm bán sách, tiệm may mặc, tiệm giặc đồ, tiệm ăn uống, tiệm cà phê đủ thứ. Nói về địa lý, vị trí Sơn Chà gồm có phía tây là cảng biển Tiên Sa, phía bắc là thị tứ Sơn Chà giáp ranh với biển đông, hướng nam bắc là con đường quốc lộ giao lưu với mọi miền thuận lợi. Tại Sơn Chà có bến xe khách Sơn Chà - Đà Nẵng, gần bên là chợ Mai to lớn, mọi người tụ tập buôn bán phồn thịnh, các loại cá, tôm, mực, hải sản từ biển Sơn Chà đưa vào chợ còn tươi sống, hoặc xe đò chở qua các chợ bên Đà Nẵng mua bán. Riêng đồng đô la Mỹ bắt đầu xuất hiện, người dân trao đổi hàng ngày, sự giao thoa kinh tế trở nên cởi mở.
16. Phong trào hippy ở miền Nam.
Lúc này phong trào hippy thanh niên Tây phương phát triển qua các nước bằng phim ảnh là chính, sau đó du nhập vào miền Nam thành phong trào mode bấy giờ. Áo quần thời trang xuất hiện, điển hình là quần ống loe, áo lai bầu, con trai thích để tóc dài phủ tai, con gái ưa tóc ngắn đờ-mi-gạc-xông kiêu sa, mạnh mẽ. Lớp đệ tứ chúng tôi cũng theo trào lưu, học sinh áo quần đồng phục nhưng may mặc thì may ở cửa tiệm theo gu thời đại, trẻ trung. Thời đó ai cũng thuộc bài Cô Bắc Kỳ Nho Nhỏ của nhà thơ Nguyễn Tất Nhiên, Phạm Duy phổ nhạc, rất ưa chuộng:
Này cô Bắc Kỳ nho nhỏ
Tóc demi-garçon
Chiều vui thương đón gió
Có thương thầm anh không?
Này cô Bắc Kỳ nho nhỏ
Tóc demi-garçon
Cười ngày thơ hết nụ
Tình cờ thấy anh trông
Khi không đường nín gió
Bụi hết thời bay rong
Khi không đường nín gió
Anh lấy gì lang thang ?...
Phong trào hippie được du nhập từ Mỹ thập niên 60, sau đó là phong trào phản đối chiến tranh, câu nói nổi tiếng là “Make love, not war”, lan rộng thành phong trào chống đối chiến tranh Việt Nam thời bấy giờ.
17. Chiến tranh và hòa bình.
Karl Marx cho rằng: “Bản chất của con người là tổng hòa các mối quan hệ xã hội”. Đó là một phán đoán chỉ phản ảnh một phần nhỏ mà đã bỏ qua phần lớn thuộc tính bản chất. Vì vậy có thể nói rằng Marx đã sai. Cái sai này đã dẫn ông đi lạc đường trong nhiều vấn đề. Hoạt động của con người ngoài một số ít theo bản năng thì đều xuất phát từ nhận thức. Theo phép biện chứng của Marx thì nhận thức là do: “Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng và từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn. Trực quan sinh động diễn ra dưới 3 hình thức: Cảm giác, tri giác, biểu tượng. Tư duy trừu tượng là giai đoạn tiếp theo, cao hơn về chất của quá trình nhận thức, diễn ra dưới 3 hình thức: Khái niệm, phán đoán, suy lý”. Những nghiên cứu sâu hơn về con người chỉ ra rằng quan niệm về nhận thức như trên của Marx chỉ đúng một phần nhỏ. Thực ra nhận thức (hoặc Tâm thức) gồm từ hai nguồn là tiềm thức và ý thức. Tiềm thức là những thông tin được chứa trong Tàng thức, trong các tầng hào quang của con người mà khoa học thực nghiệm hiện nay chưa biết rõ. Tiềm thức được hình thành từ trong bào thai do di truyền, do tiếp thu tinh hoa sông núi. Ý thức thuộc hoạt động của não mà phần lớn được hình thành từ lúc còn rất bé, một phần nữa do các quan hệ xã hội tạo nên (các thần đồng nhỏ tuổi là minh chứng). Marx thấy khá rõ phần quan hệ này rồi quan trọng hóa nó lên, vội vàng cho rằng đó là bản chất. Nhầm lẫn này là vô cùng tai hại. Marx quy kết sai về bản chất con người như vậy có thể do bị ảnh hưởng bởi thuyết tiến hóa Darwin, con khỉ tiến hóa thành con người. Học thuyết này đề cao ảnh hưởng của môi trường và hiện nay đang bị đánh đổ dần dần. Karl Marx đưa ra học thuyết duy vật biện chứng, con người phải đấu tranh cho cuộc cách mạng vô sản, giai cấp công nhân phải đứng lên lật đổ chế độ tư bản hút máu người, sau đó lấy của cải người giàu chia cho người nghèo, xem đó là mục đích sau cùng của người cộng sản.
Tôi rất đồng ý với giáo lý nhà Phật, thế giới hiện hữu là thế giới đau khổ bởi tự mình tạo ra (tiếng Phạn là Karma). Thế giới này tự tạo ra người nghèo và người giàu, tạo ra người thiện và người ác. Mọi người đều chịu chi phối bởi định luật nhân quả, nghiệp báo của mình. Nói rộng ra là chúng sinh gồm có người và súc vật.
Theo tôi, chiến tranh chính là tham vọng của con người xuất phát từ sự chiếm đoạt và cuồng tín mà ra. Nói về chiến tranh và hòa bình, tôi xin mượn các bài thơ của Nguyễn Duy, Nguyễn Bắc Sơn sau đây kết thúc chương này:
Ta mặc niệm trước Angkor đổ nát đá cũng tàn hoang huống chi là kiếp người
Đá ơi xin tạc lại đây lời cầu chúc hoà bình
Nghĩ cho cùng
Mọi cuộc chiến tranh
Phe nào thắng thì nhân dân đều bại.
(Bài thơ Đá Ơi - Nguyễn Duy).
Chiến tranh này cũng chỉ một trò chơi
Suy nghĩ làm gì lao tâm khổ trí
Lũ chúng ta sống một đời vô vị
Nên chọn rừng sâu núi cả đánh nhau
Chọn trời đêm làm nơi đốt hỏa châu
Những cột khói giả rồng thiêng uốn khúc
Mượn bom đạn chơi trò pháo tết
Và máu xương làm phân bón rừng hoang
(Chiến tranh Việt Nam và tôi - Nguyễn Bắc Sơn)
18. Nhu cầu tình dục lính Mỹ xa nhà.
Chiến tranh ở đâu cũng vậy, nhu cầu tình dục của người lính xa nhà là một thực tế, ngược lại với người nữ do hoàn cảnh đẩy đưa họ phải bán thân kiếm tiền mặc dầu bị xã hội chê bai. Sơn Chà tôi ở cũng có những điểm bán dâm gọi là “động” đáp ứng nhu cầu của khách. Có một lần tôi đi phía sau các doanh trại Mỹ (thời tôi còn đi lượm rác) vô tình tôi thấy lính Mỹ lén lút nhảy rào ra ngoài, trước đó lính Mỹ đã thỏa thuận với một thanh niên đứng ngoài (gọi là ma cô) sẽ dẫn lính Mỹ tới động gái điếm, sau đó lính Mỹ sẽ cho tiền. Thực tế, trên đường cái quốc lộ thường có xe quân cảnh Mỹ (gọi là MP) chạy qua chạy lại kiểm tra lính Mỹ ra đường, hễ thấy ông mô ngơ ngơ ngác ngác là MP bắt ngay, xe Jeep MP chạy tới hốt ổng lên xe, quân cảnh MP quất mấy roi ba-ton lên người ông lính sổ chuồn, hai tay còng lại chở về đồn, quân đội mà. Do đó anh thanh niên ma-cô dẫn Mỹ đi thì phải lanh lợi, che dấu an toàn lính Mỹ tới động, sau đó lính Mỹ mới cho tiền. Sau đây là một bài thơ trào phúng nhưng nghe cũng đắng lòng:
Rớt tú tài anh đi trung sĩ
Em ở nhà lấy Mỹ nuôi con
Bao giờ xong việc nước non
Anh về anh có Mỹ con anh bồng...
(Bài thơ vô danh)
Mai ta đụng trận ta còn sống
Về ghé Sông Mao phá phách chơi
Chia sớt nỗi sầu cùng gái điếm
Đốt tiền mua vội một ngày vui…
Ngày vui đời lính vô cùng ngắn
Mặt trời thoáng đã ở phương Tây
Nếu ta lỡ chết vì say rượu
Linh hồn chắc sẽ thành mây bay
(Mật khu Lê Hồng Phong, Nguyễn Bắc Sơn)
19. Trong chiến tranh tình yêu trở nên đau thương và khắc nghiệt.
Dẫu xã hội miền Nam bấy giờ tiến bộ hơn trước, hết dần tư tưởng lạc hậu nhưng việc phụ nữ lấy lính Mỹ thì bị dư luận xã hội khinh bỉ coi thường, thậm chí người phụ nữ có bầu với Mỹ phải trốn tránh chớ không dám công khai, đến giờ sinh đẻ họ phải vô bệnh viện một mình, không có cha mẹ người thân gần bên chăm sóc, lý do là đẻ con lai, mọi người xa lánh. Trong khi đó quân đội thì có kỷ cương của quân đội, lính Mỹ được điều động tới các chiến trường xa xôi khác hoặc là chết ngoài mặt trận chẳng hạn, cuộc chia ly là nước mắt phủ phàng, người phụ nữ luôn nhận phần cay đắng đó. Về sau khi chiến tranh Việt Nam kết thúc, nhờ internet chúng ta có thể đọc những lá thư của lính Mỹ, lính Hàn đăng báo nhằm tìm người yêu cũ hoặc vợ con hồi chiến tranh khi tuổi đã về già, hoặc xem các chương trình như Như Cuộc Chia Ly chẳng hạn.
20. Nét đẹp của Tiên Sa, Bãi Bụt, Sơn Chà quê tôi.
Có thể nói phong cảnh non nước hữu tình của Tiên Sa và Bãi Bụt giống như tranh vẽ, giống như xứ sở thần tiên mà thiên nhiên đã ban tặng cho vùng đất Sơn Chà, bởi cái đẹp tổng thể gồm núi và biển kết hợp lại với nhau, phía đông là Bãi Bụt, phía tây là Tiên Sa sương khói mây vờn.
Bãi Bụt: Tương truyền vào thời vua Minh Mạng triều Nguyễn, một buổi sáng tinh sương, dân chài ven biển nơi đây tình cờ phát hiện một tượng Phật nhô lên khỏi mặt cát bèn nghinh rước về lập am thờ phụng, đặt tên cho vùng này là Bãi Bụt (Phật). Từ đó, nơi này sóng yên biển lặng, dân chài làm ăn yên ổn.
Tiên Sa: Núi non hùng vĩ, bãi biển Tiên Sa cát vàng óng ánh, gió thổi dập dìu, ghềnh đá hoang sơ, đặc biệt buổi trưa nước biển có màu xanh ngọc bích, lãng mạn. Thú vị nữa, ở đây có địa danh huyền thoại là Bàn Cờ Tiên, tương truyền thường có các vị tiên xuống chơi cờ ở đây, gần bên bãi biển Tiên Sa sóng vổ rì rào. Hồi nhỏ tôi nghe nói có lần dân Mân Quang đến núi Tiên Sa chặt củi, họ thấy một tản đá bằng phẳng, mặt trên khắc dấu bàn cờ tướng rất rõ ràng, tiếp theo họ còn thấy một bàn chân người rất to in trên tảng đá nữa, thật là huyền thoại. Còn nhỏ tôi chỉ đứng nghe người lớn nói chuyện về tiên ông vậy thôi. Nhưng phải nói thời kỳ trước rất ít người tới khu vực Tiên Sa đón củi, họa may chỉ có vài tiều phu lác đát họ mới nhìn thấy bàn cờ tướng và dấu chân tiên ông. Tôi nghĩ như vậy càng tốt, cứ để biển cả núi non phù du như thế còn hơn xây dựng điểm du lịch sính lời, các ông tiên trên trời mới ghé xuống Tiên Sa đánh cờ với nhau, dĩ nhiên là thanh tịnh. Tiên Sa mà!
21. Mái trường Bồ Đề Sơn Chà yêu dấu của tôi.
Trường Bồ Đề và chùa Sơn Chà nằm gần biển và gần núi, gió biển thổi vào đất liền làm hàng thông vi vu suốt ngày suốt đêm, sự ưu ái của thiên nhiên dành cho vùng biển Sơn Chà này trở nên thơ mộng. Nhìn tổng quát, lúc đó Sơn Chà có hai trường tư thục cấp hai đó là trường Bồ Đề Sơn Chà của Phật giáo và trường Vinh Sơn của Công giáo. Riêng nói về trường Vinh Sơn, trường này cách với trường Bồ Đề Sơn Chà khoảng chừng 500 mét, vị trí xa biển hơn. Trường học Vinh Sơn gần với đường lộ trên đường tôi đi học. Đầu tiên là Nhà thờ Vinh Sơn, mặt tiền là tháp xây có thánh giá vươn cao, liền kề nhà thờ là các dãy trường học Vinh Sơn bao quanh. Có nhiều lý do, lên cấp hai học sinh thường xin học trường tư thục như Bồ Đề Sơn Chà hoặc Vinh Sơn mà không học trường công lập Đông Giang xa hơn, bởi vì lên trung học, học sinh thi vào đệ thất bị rớt (thi bên Đà Nẵng) nên không vào trường công lập Đông Giang được. Tuy vậy, học trường tư thục tôi thấy vẫn bình thường mặc dù hàng tháng phải đóng học phí, nhà nghèo vẫn đi học thoải mái chẳng lo lắng gì lắm, không như bây giờ học sinh đóng tiền đủ thứ. Nói chung dẫu là trường tư thục nhưng chất lượng dạy học rất tốt không kém gì cả. Trở lại, lúc ấy trường Bồ Đề Sơn Chà có thầy Thích Minh Tuấn với danh nghĩa là hiệu trưởng nhưng thầy giao quyền cho thầy Huỳnh Hải Tứ hiệu phó đảm nhiệm, bởi vì thầy Thích Minh Tuấn còn có nhiều nhiệm vụ cao hơn tại các Trường Bồ Đề khác thuộc Đà Nẵng. Thỉnh thoảng thầy có về Chùa Sơn Chà ở lại, hôm đó thầy đến lớp chúng tôi thuyết giảng đột xuất (lớp đệ tứ) gần một tiếng đồng hồ, cả lớp ngồi nghe êm ru, giọng thầy truyền cảm, mạch lạc cuốn hút học trò. Sẳn dịp nói thêm, ngày ấy trường Bồ Đề Sơn Chà mời đa số các giáo sư bên Đà Nẵng qua dạy học, dạy theo giờ, mỗi cô thầy đều đi xe honda riêng hoặc đi xe đò Sơn Chà – Đà Nẵng qua (chú ý hồi đó giáo viên cấp hai gọi là giáo sư). Bây giờ nghĩ lại, mình rất mừng vì ngày xưa mình học trường Bồ Đề Sơn Chà, một tuần có hai tiết học về giáo lý nhà Phật, may mắn cho tôi.
22. Xin kể vài câu chuyện các thầy giáo lớp tôi.
Tôi ưa nhất giáo sư Huỳnh Hải Tứ dạy môn Văn, kiến thức của thầy uyên bác, thầy dạy môn Văn cuốn hút học trò. Có lần thầy Tứ kể chuyện ma cả lớp nghe hòng giảm stress học hành. Chuyện xảy ra như vầy: Hôm đó có một nữ sinh trường Sao Mai Đà Nẵng tan học đứng đón xe quá giang, cô vảy tay một chiếc xe honda người nam chạy tới, người nam ngừng xe, sau đó người nam chở người nữ quá giang, trong lúc trời mưa nặng hạt, cô gái ngồi sau chỉ đường về nhà cô ở Đà Nẵng, lúc này người nam lấy áo mưa che luôn người nữ ngồi sau cho khỏi ướt, khi xe tới đường hẻm gần nhà cô thì dừng lại, trời vẫn còn mưa, người nam bèn đưa áo mưa cho người nữ mặc đi vào nhà, hẹn hôm sau chàng sẽ tới lấy áo mưa, hy vọng sẽ làm quen thêm (kể tới đây thầy Tứ hẹn lần sau kể tiếp vì hết giờ, mọi người đều hít hà tiếc nuối). Tiếp theo lần sau, khi hai người con trai và con gái trở nên thân thiện, cô gái bèn yêu cầu người nam chở nàng ra nghĩa trang thắp nhang cho người thân của nàng. Nhưng bất ngờ, tự nhiên vừa mới tới nghĩa trang thì cô gái biến mất, lúc này chàng đọc lên tấm bia nghĩa trang thì thấy ghi tên tuổi, năm sinh của nàng rõ ràng chính xác, chàng hoảng hồn lạnh cả người, thì ra cô nữ sinh trường Sao Mai vừa mới chết đây, một tai nạn giao thông xảy ra trước cổng trường, hồi đó ai cũng biết sự cố này cả. Tiếp theo chàng thấy chiếc áo mưa của mình (nàng mượn chàng trước đó) trải trên mộ nàng như một tình yêu ảo vọng, không tưởng. Phải nói thầy Tứ kể truyện ma rất hay, hồi hộp, ai nghe cũng lạnh người.
Tiếp theo là giáo sư Nguyễn Văn Chương dạy môn Anh văn, dáng thầy cao ráo trông giống người Tây, mũi cao đẹp trai nữa chớ. Thầy kể lại những năm qua Mỹ học chương trình giao tiếp Mỹ - Việt tài trợ, thầy nói gần một tháng trời qua Mỹ thầy không hiểu người Mỹ nói gì, dù ở Việt Nam thầy giỏi tiếng Anh nên mới cử đi, chẳng hạn tiếng địa phương từ hot thì nói là hat hoặc các từ lóng Mỹ - Anh gây khó khăn cho thầy khá nhiều. Trở lại, một hôm thầy đi xe honda từ Đà Nẵng qua Sơn Chà dạy học, thấy trước doanh trại Camp Tien Sa có một tai nạn giao thông xảy ra, xe Mỹ cán chết người Việt mình mằn giữa đường, từ đó các người lính thương phế binh (cộng hòa) ngồi xe lăn ra hiện trường chận xe Mỹ qua lại, yêu cầu phải bồi thường nạn nhân, do ngôn ngữ bất đồng nên tình hình càng căng thẳng leo thang. Đi trên đường thầy Chương thấy vậy dừng xe tới hiện trường, thầy nói với người Mỹ là phải bồi thường người bị nạn đến khi gia đình họ thấy thỏa đáng thì mới cho đi. Thầy nói với người Mỹ tông xe lâu lắm, dạng to tiếng. Trong lúc đó các thương phế binh ngồi xe lăng xếp thành hàng ngang che hết con đường quốc lộ, không cho xe Mỹ qua lại, nối đuôi một hàng dài. Xin nói rõ chỗ này, có thể người bị nạn chết là do lỗi của họ gây ra trong giao thông nhưng người mình vẫn kiện Mỹ đòi bồi thường. Thầy Chương nói chuyện với người Mỹ tông xe một hồi lâu, sau đó người Mỹ hiểu ý bắt tay với thầy Chương đi đến hòa giải đền bù, đến lúc này hiện trường mới giải tán lần lần, sau đó các thương phế binh mới hết chặn đường, xe Mỹ qua lại thông suốt. Hôm đó thầy Chương tới trường trể giờ là vậy. Như mọi người đều thấy, lính thương phế binh luôn đoàn kết bênh vực người mình nếu gặp tai nạn trên đường, mặc dù trước đó ngoài chiến trường thì lính miền Nam và lính Mỹ sát cánh với nhau, yêu nước đơn giản là vậy.
23. Học sinh nhà xa thường ở lại buổi trưa.
Do nhà xa chúng tôi thường ở lại trường buổi trưa, về nhà thì hơi cập rập. Ở lại chúng tôi thường ra hàng dương nghỉ mát hoặc tới Đài Nam-Hải-Các nghỉ ngơi, ăn bánh mì do nhà trường phát buổi sáng (được biết hội thánh Tin Lành cung cấp cho học sinh từ cấp I đến cấp II bánh mì hằng ngày, không phân biệt tôn giáo). Trong khuôn viên Chùa Sơn Chà có Đài Nam Hải Cát nằm phía sau trường học một đoạn, gần biển chưa tới 100 mét. Tại đây bọn tôi ngồi dưới nền gạch hoa bóng lưỡng của Đài Nam Hải Các ăn bánh mì, ngắt bánh thả xuống hồ nước, hồ nước xao động nhấp nhô, một lát con ba-ba trong hồ bơi tới (hoặc kêu con rùa) hả miệng ngoạp miếng bánh mì gọn gàng, sau đó nó đứng chờ miếng khác thả xuống. Con ba-ba bự lắm, to bằng cái mâm nhà mình ăn cơm lận, ăn hết mồi mà không thấy thả bánh mì xuống, hồi lâu nó mới chịu lặn xuống hồ. Đài Nam-Hải-Các được kiến trúc với phong cách cổ xưa, tám hướng xoay tròn bát quái, sinh động hài hòa, giữa là tượng Phật Quan Âm đứng trên tòa sen, có mái che trên đầu hình bát giác, lợp ngói kiểu. Phía dưới tòa sen, từ bậc tam cấp trở xuống là hồ nước hình bán nguyệt, nhà chùa thả con ba-ba bơi lội quanh hồ, lâu ngày hồ nước sinh ra cá, ếch, nhái đủ thứ. Thích nhất bữa trưa ngồi ăn bánh mì ngắt thả xuống hồ, con ba-ba bơi tới đớp mồi thấy vui vui, tiếp đó bọn tôi cầm que thọc xuống nước đùa giỡn với con cá, con ếch, con nhái trồi lên lặng xuống, bơi qua bơi lại liên tục, cảm thấy thư thả, cuối cùng kê vở lên đầu ngủ trưa hoặc đọc truyện kiếm hiệp Kim Dung tùy thích, dưới tòa sen tượng Phật Quán Thế Âm.
24. Nhà trường chiếu phim Love Story cho học sinh xem.
Mùa hè năm đệ tứ, nhà trường chiếu phim Love Story cho học sinh xem. Thời đó phim này được coi là “best seller” trên toàn thế giới, gây thổn thức về cái đẹp vĩnh cửu của tình yêu, lời thoại phim đã thành tuyên ngôn của thế hệ trẻ bấy giờ. Phim được đại học Havard chọn chiếu lại trong các dịp chào đón tân sinh viên năm học mới. Ngoài ra di sản Love Story để lại ấn tượng nằm trong âm nhạc và thời trang thời bấy giờ. Bài hát chính của phim Where do I begin? trở thành tình khúc làm tan chảy những trái tim đang yêu qua nhiều thế hệ. Lúc này trường Bồ Đề Sơn Chà nhạy bén đón tiếp cái mới, cái hay của tuổi trẻ, trong đó có chúng tôi. Với định hướng nhân bản của nền giáo dục tiến bộ, trường học tôi đã có tầm nhìn hào phóng bậc nhất thời bấy giờ. Mặc dù đi xa đã lâu nhưng tôi cứ nhớ về mái trường xưa ngày ấy, nhớ nhiều thứ, trong đó có chuyện cá nhân riêng tôi, nhớ có lần giáo sư Thích Viên Dung dạy môn toán đại số, hôm đó thầy đứng gần bên thấy tôi làm toán trật lất hết, thầy bèn ngéo tai tôi mấy phát liền hihi (thực ra môn đại số tôi dở nhất lớp, chỉ thích môn lượng giác và hình học không gian thôi). Cho nên mỗi lần thầy ra toán nhanh chấm điểm trực tiếp, tôi đành ngồi xếp re bó phép êm ru. Răng giải kịp bài toán ni đây hè, tới giờ nộp bài tôi nghe tiếng thông reo trước sân trường kêu “ù ù, ù ù” suốt bên tai, lại thêm tiếng sóng biển đập vào bờ rì rào không dứt. Lạ thật, cây thông, sóng biển mà cũng biết buồn?
25. Trốn học tiết đầu vô vườn cô Trang bắt bướm.
Đất đai sở hữu của Chùa Sơn Chà rộng lớn lắm, gồm có chùa và trường học trước đường, Đài Nam Hải Các sát biển, một rừng thông từ chùa ra tới nghĩa trang núi Sơn Chà, ngoài ra nhà chùa còn có khu đất rộng lớn bên kia đường giáp ranh với nghĩa trang nữa, gọi là vườn cô Trang. Từ khi thành lập, nhà chùa đã xây dựng một dãy nhà cho các tu sĩ trong chùa ăn ở học hành, kể cả các tu sĩ ở xa về đây tá túc, có thể gọi là ký túc xá Chùa Sơn Chà cũng được. Về sau thầy trụ trì Thích Minh Tuấn đưa em gái từ Huế vào đây coi ngó chăm sóc vườn tược khu ký túc xá này, vì là em gái của thầy nên mọi người quen gọi là vườn cô Trang. Hồi tôi còn học ở đây, vườn cô Trang đã phát triển thành vùng đất màu mỡ, cây trái xum xê, ong bướm bay lượn khắp nơi trong vườn đẹp lắm, tất cả là do cô Trang vun đắp nên. Bên ngoài bước vào ký túc xá phía trong thì thấy một ao nước chắn ngang đường đi, nhà chùa làm chiếc cầu bê-ton bắt qua dài cở 3 mét xinh xắn, dưới ao nước có chiếc ghe nhỏ để cô Trang chèo ghe hái bông, hái trái quanh vườn, mặt trước mặt sau vườn cô Trang trồng nhiều loại cây trái như dừa sim, mẩn cầu, ổi, mận, bông hoa các thứ đủ màu sắc.
26. Cầm vợt bắt bướm quanh vườn.
Một lần trốn học tiết đầu (môn âm nhạc), tôi lén vô vườn cô Trang cầm vợt bắt bướm, vừa chui rào bước vào, từng đàn bướm bay trên đầu tôi lượn lờ xập xình đủ loại, nhiều vô số như nằm mơ. Vườn cô Trang là hộ sau chót của xóm nên ít người qua lại, nhờ vậy chẳng ai để ý tôi bắt bướm. Trong vườn tôi cầm vợt chạy tới chạy lui, quơ qua quơ lại, dí bướm bay khắp nơi, có hồi tôi chụp xuống, có hồi tôi hất lên, thấy vợt dính bướm tôi ngồi xuống bắt bướm ép trong vở học liền. Ngó vậy cầm vợt bắt bướm khó lắm, không dễ đâu, bướm bay theo tần số dao động đa hài, chụp bên này thì bướm ở bên kia, do đó mắt mình phải lanh lợi, không thì chụp hụt miết thôi. Ham bắt tôi cầm vợt dí bướm liên tục, một hồi hì hục, mồ hôi rịn ra lấm tấm trên đầu. Về sau tôi cũng bắt được khá nhiều con bướm, đủ loại, đa dạng, đa màu sắc, lát sau quyển vở tôi đầy bướm ép. Bỗng tiếng kẻng “beng beng” trường học vang lên, tới tiết hai, tôi lật đật gom sách vở chạy về trường. Thời gian trôi đi nhanh quá, lúc này lớp đệ tứ chúng tôi bắt đầu chuyền tay những quyển vở lưu bút, từ bạn này tới bạn kia gửi đến. A, thì ra mùa hè đã đến rồi, có điều mùa hè này là mùa chia tay vĩnh viễn, chúng tôi sẽ rời xa mái trường thân yêu học cấp 3 bên Đà Nẵng, buồn ghê. Hôm đó tôi đem quyển lưu bút về nhà ghi chép cảm tưởng, tôi thức khuya hơn mọi hôm. Tôi phải chú ý đến chữ viết và lời văn ghi chép thiệt ấn tượng, phải nắn nót, phải màu mè, phải cách điệu, tôi để sẳn một hộp bút màu ghi đề làm cho bài viết thêm sinh động, có hồi vẽ trái tim trong quyển lưu bút chẳng hạn, hòng gây ấn tượng bạn nữ thân. Khó đấy, chữ viết tôi xấu tệ nhưng phải cố gắng thôi, miễn sao trong quyển lưu bút trao lại, các bạn sẽ thấy trái tim tôi trong đó !
27. Mùa hè đi học thường tắm biển.
Biển và trường học Bồ Đề Sơn Chà gần xịch, ngồi trong lớp vẫn nghe tiếng sóng biển rì rào. Mùa hè bọn con trai trong lớp thường rủ nhau tắm biển (lịch học ghi nghỉ 2 tiết đầu, học 2 tiết sau chúng tôi thường tắm). Hôm đó tôi cùng vài bạn nữa rủ nhau tắm biển, tôi đang bơi ra xa thì bị giộp bẻ, một chân co rút cứng đơ, không cựa quậy ra được, cách bờ khá xa. Hoảng hốt, tôi thả người trôi tự do trong nước, lúc đầu thân thể nổi lên một ít, về sau toàn thân chìm lỉm dưới nước sâu, tôi nghe tiếng sóng ngắt quảng ào ào trên đầu tôi, tín hiệu sự chết đã cận kề. Bản năng sự sống liền thúc đẩy trong người tôi, tôi cố trồi lên mấy lần, một lần, hai lần, ba lần, sau đó lại chìm lỉm, hư vô cận kề. Thật là may mắn, khi đang chìm sâu dưới nước, tự nhiên tôi có cảm giác một con sóng phía trên đến gần tôi, xô đẩy tôi trôi dạt về một hướng vô định nào đấy… Bỗng tôi thấy hai chân tôi chạm đáy, lúc này tôi cựa quậy, vùng vẩy, bơi lội hướng vào phía bờ liên hồi. Một lát sau tôi có cảm giác đầu mình trồi ngang với mặt nước, tôi trường tới, trường tới… Sau đó tôi đứng dưới biển nhưng mắt tôi nhìn thấy con sóng nhấp nhô phía trước, thế là tôi đã sống !
Lên bờ miệng tôi đắng nghét, bụng ọc ra nước biển khó chịu, lát sau tôi mới thấy nhẹ nhỏm trong người. Nghĩ lại chắc trước đó tôi không vận động làm nóng cơ thể khi tắm biển nên dễ bị giộp bẻ, thật nguy hiểm. Tôi ngước lên nhìn đỉnh núi Sơn Chà từ xa, có một chiếc xe Jeep chạy ngoằn ngoèo hướng Rada, lúc ẩn lúc hiện như phim trinh thám. Mừng quá, tôi đã nhận ra thế giới sinh động đang hiện hữu tại đây, cảnh vật vẫn quyến rũ, chớ xui xẻo bị hà bá biển rước đi thì buồn lắm hihi. Tới giờ học 2 tiết sau, người tôi ướt nhèm, tôi hong khô một lát rồi mặc quần áo vào người, nhanh chóng tém thùng gọn gàng, đưa năm ngón tay làm lược chải đầu và hất tóc ra sau, bước vô lớp học chỉnh tề.
28. Thuyết trình truyện “Anh Phải Sống” của Khái Hưng & Nhất Linh.
Một lần thầy Huỳnh Hải Tứ dạy môn giảng văn, thầy chia lớp thành 4 nhóm, tôi ở nhóm 2, mỗi nhóm chuẩn bị người để thuyết trình truyện Anh Phải Sống của Khái Hưng & Nhất Linh. Người thuyết trình bước lên bục giảng nhìn xuống lớp, trước hết thuyết trình viên kể tóm gọn câu chuyện Anh Phải Sống, tình tiết rõ ràng dễ hiểu, sau đó phân tích cốt truyện, mục đích nói lên điều gì. Tập thuyết trình viên đứng trước mọi người cho quen. Bất ngờ hôm đó thầy Tứ chỉ định nhóm tôi lên thuyết trình, trong khi cả nhóm không ai dám lên hi. Đẩy qua đẩy lại thì bạn gần bên đẩy tôi lên (tôi ngồi đầu bàn), bí quá đành lên vậy. Đứng trước một rừng người, cả lớp ai cũng nhìn tôi chăm chú, đoạn mở đầu tôi nói khá trôi chảy, đến đoạn sau miệng tôi bỗng lắp bắp đứng yên một chỗ như trời trồng, nhất là chỗ phân tích tâm lý của hai vợ chồng nhặt củi trôi dưới sông, qua lời thoại của cốt truyện. Thầy Tứ thấy tôi đứng yên im re, thương hại thầy cho tôi về chỗ cũ, hi !
"Người chồng cũng thở dài, đi lững thững. Rồi bỗng dừng lại, hỏi vợ:
- Mình thổi cơm chưa ?
Vợ buồn rầu đáp:
- Ðã. Nhưng chỉ đủ cơm cho hai con ăn bữa chiều hôm nay.
Hai vợ chồng lại im lặng nhìn nhau... Rồi hình như cùng bị một vật, một định kiến nó thôi miên, nó kiềm áp, hai người đều quay lại phía sông. Những thân cây vẫn phăng phăng trôi giữa dòng nước đỏ.
Chồng mỉm cười, cái cười vơ vẩn, bảo vợ:
- Liều !
Vợ lắc đầu không nói. Chồng hỏi:
- Mình đã đến nhà bà Ký chưa ?
- Ðã.
- Thế nào ?
- Không ăn thua. Bà ấy bảo có đem củi vớt đến, bà ấy mới giao tiền. Bà ấy không cho vay trước.
- Thế à ?
Hai chữ "thế à" rắn rỏi như hai nhát bay cuối cùng gõ xuống viên gạch đặt trên tường đương xâỵ Thức quả quyết sắp thi hành một việc phi thường, quay lại bảo vợ:
- Này ! Mình về nhà, trông coi thằng Bò.
- Ðã có cái Nhớn, cái Bé chơi với nó rồi.
- Nhưng mình về thì vẫn hơn, cái Nhớn nó mới lên năm, nó trông nom sao nổi hai em nó"…
(Hôm đó trong lớp tôi thuyết trình đến đây thì ngừng lại).
29. Lúc này cả làng Mân Quang lên núi Sơn Chà đón củi.
Thời cuộc thay đổi, người Mỹ rút khỏi miền Nam, công việc tại sở Mỹ không còn nữa dẫn đến thất nghiệp tràn lan. Hồi đó mọi nhà đều nấu bếp dầu hỏa (bếp có 12 sợi tim nhúng dầu, châm lửa thì bếp cháy đều, muốn vần cơm chín thì hạ lửa, để miếng sắt mỏng lên cách nhiệt), bây giờ hãng Shell rút đi, thị trường không còn bán dầu (diesel) tự do, dân không thể nấu bếp bằng dầu hỏa mới chuyển qua nấu than, nấu củi. Lúc này các xe khách chạy bằng than thay dầu, mỗi lần xe chạy ông lơ xe đứng bên cầm que dài thọc vào bình than ngoáy cho lửa cháy đều, bụi than bay ra tạt vào xe, vào hành khách làm đen sì người và áo quần, tự nhiên trở về thời kỳ cổ đại, từ đó dân làng Mân Quang mới lên núi Sơn Chà đốn củi là vậy.
Từ sáng sớm, từng đoàn người vác rựa đi hàng hàng lớp lớp trên đường, lên tới đài Rada trên núi cao, đông như trẩy hội, trai gái, già trẻ đều có mặt. Nhà tôi các anh chị cũng đi đốn củi với mọi người, sau này các anh tôi đi củi chuyên nghiệp hơn là vào làng Mân Quang thuê ghe chở lên núi Tiên Sa đón củi, các ảnh ở lại trên núi đến 4 - 5 ngày mới xuống núi, các cây to được cưa ra từng đoạn ngắn bằng nhau, sau đó vác xuống núi, cuối cùng vác xuống ghe, chất đầy ghe mới chạy về (ông chủ ghe có nhiệm vụ coi ghe và nấu ăn cho cả nhóm). Nhờ vậy trong bếp nhà tôi củi chất cao quá đầu, còn chất bên ngoài nữa mới hết, trong khi đó má tôi nuôi bốn con heo chụm củi nấu cám thường xuyên. Lúc này người bán củi đem ra chợ bán rất nhiều, được cái nhà tôi không tốn tiền mua củi.
Ai bảo rừng xanh là quái ác
Ai bảo Trường Sơn là nắng rát.
Gió núi mưa ngàn
Sói beo quanh mình
Xiết bao kinh hoàng
Tôi bảo rừng xanh là quý giá.
Tôi bảo Trường Sơn yêu biết mấy
Khi cháy trong lòng tôi
Lý tưởng dựng xây ngày mai
Rừng ơi ta đã về đây
Mang sức của đôi tay lao động khó khăn không quản ngại
Rừng ơi trong tiếng ca hôm nay
Vang lên cuộc đời sáng tươi trong tương lai.
Lạ thật, bài hát này lại động viên người chặt củi đốn, đốn củi trong rừng là sao nhỉ?
30. Nghỉ học không biết làm gì tôi cũng đi đốn củi.
Trước nhà tôi từng đoàn người lên núi Sơn Chà đón củi đông lắm, sáng đi chiều về, tôi cầm rựa ra đường nhập theo bọn họ. Tới núi thì đi theo con đường nhựa Mỹ làm dẫn tới đài Ra đa trên cao. Lần đầu tiên tôi lên núi, càng lên cao tôi thấy núi rừng càng đẹp đẽ lạ lùng, bên triền núi, có một cụm mây lơ lửng lãng du. Tôi vác rựa trên vai, cùng đi với những người lên núi chặt củi, đông đúc nhộn nhịp. Tự nhiên tôi tưởng tượng cái rựa là cây đàn vác vai, vừa đi tôi vừa huýt sáo nghêu ngao hát bài Trả Lại Em Yêu của Phạm Duy:
Trả lại em yêu, khung trời Ðại Học
Con đường Duy Tân cây dài bóng mát
Buổi chiều khuôn viên mây trời xanh ngát
Vết chân trên đường vẫn chưa phai nhạt
Trả lại em yêu, khung trời mùa Hạ
Ngọn đèn hiu hiu nỗi buồn cư xá
Vài giọt mưa sa hôn mềm trên má
Tóc em thơm nồng, dáng em hiền hoà.
Anh sẽ ra đi về miền cát trắng
Nơi có quê hương mịt mù thuốc súng
Anh sẽ ra đi về miền mênh mông
Cơn gió Cao Nguyên, từng đêm lạnh lùng
Anh sẽ ra đi nặng hành trang đó
Ðem dấu chân soi tuổi đời ngây thơ
Ðem nỗi thương yêu vào niềm thương nhớ
Anh sẽ ra đi chẳng mong ngày về…
Tôi vừa đi vừa hát vừa suy nghĩ mông lung. Vừa qua tôi thi đại học ngoài Huế bị rớt, buồn (tôi học ban C gồm văn, ngoại ngữ và triết). Tiếp theo tôi không biết sẽ làm gì ? Đất nước vừa mới giải phóng. Tương lai tôi thì vô định. Thôi, chẳng biết làm sao. “Làm sao cũng chẳng làm sao. Dù có thế nào cũng chẳng làm chi”. Tôi thấy có một nỗi buồn xâm chiếm.
31. Sáng kiến độ chiếc xe chở củi.
Đốn củi xong thì xuống núi, dân đi củi chuyên nghiệp họ độ ra chiếc xe chở củi rất tiện lợi, bằng cách họ lấy tấm ván rộng, mặt dưới tấm ván gắn hai bánh xe nhỏ (là trục bi xe honda), thế là xong. Ra về, họ chất củi lên tấm ván đó, lấy dây neo cột ràng hai bên kỹ càng chắc chắn, xong họ đẩy nhẹ xe củi nhích tới, chiếc xe tự động chạy xuống dốc theo quán tính, chủ xe đi theo điều chỉnh phải trái, tránh đâm vô núi hoặc chạy xuống lề. Đường cái rộng thênh thang, xe chạy bon bon về phía trước, không tốn sức đẩy xe, không phải vác củi mệt nhọc, củi chất trên xe nhiều hơn vác, rõ ràng sáng kiến làm xe chở củi thật độc đáo. Mỗi lần tôi vác củi xuống núi, hể nghe tiếng kêu “kít, kít, kít” phía sau (tiếng kêu các trục bi honda) tôi phải ngoảnh lại xem chừng, sợ xe củi đâm tới bất ngờ, tránh không kịp.
32. Đi củi buổi trưa ăn cơm vắt.
Sáng sớm má tôi làm cơm vắt (kèm theo mè, đậu phụng) cho cả nhà, một vắt cho tôi đi củi đầu tiên. Phải nói đi củi cực khổ thật nhưng lại thú vị, trên núi một mình luồn lách cây cối đâm qua đâm lại xà quần, cầm rựa chặt cây mở đường, gặp cây ưng ý thì dừng lại đốn hạ, sau đó đi tới chỗ khác chặt tiếp. Đến khi thấy đủ một bó củi (vừa sức mình) thì không chặt nữa, quay về chỗ đầu tiên gôm lại. Cuối cùng xếp củi lại một thành bó đầy, lấy dây neo xiết chặt hai đầu củi, xoắn neo là xong. Đang đốn củi, tôi nghe tiếng rựa ai đó chặt vào cây kêu phụp phụp, tiếng cây đổ ào ào gần bên, sau đó là tiếng hú vang xa của ai đó, báo hiệu với nhau biết chừng, âm thanh rền vang trong núi, thật yên tâm. Bó củi đâu đó xong xui, tôi ngồi xuống nghỉ ngơi đưa bi-đông nước vô miệng uống ực ực, đã đời. Sau đó tôi trải miếng lá dưới đất sạch sẽ, mở gói cơm vắt chấm muối mè ra ăn, phải nói cơm vắt má vắt dẻo đeo, muối đậu mè thơm phức.
33. Tôi bị lạc trong rừng.
Một hôm đi củi tôi bị lạc trong rừng, đầu tiên chặt củi xong là tôi vác củi xuống núi nhưng không thấy đường ra, chỗ nào cây cối cũng bịt kín hết cả, lạ. Tôi cố gắng tìm ra dấu vết trong rừng, chẳng hạn một nhánh cây bị chiếc rựa cứa vào làm dấu của ai đó cũng không thấy, ngược lại là cây cối muôn trùng bít lối ra. Lúc này tôi không còn nghe tiếng rựa chặt cây, tiếng cây đổ ào ào, tiếng người hú như mọi lần trước, thì ra mọi người đã xuống núi hết rồi, tôi không để ý vì ham chặt củi, núi rừng im lặng phăng phắc. Tôi bắt đầu lo lắng, vác củi ra hướng nào cũng bí rị, trên đầu những nhánh mắc mèo kiến bò đầy khắp trên đó, toàn các sợi dây gai, dây níu đan qua đan lại chập chùng. Tái mét, tôi quăng bó củi xuống đất cái bịch, bỏ luôn, một tay cầm rựa chặt cây xung quanh để thoát thân, miễn sao xuống núi là được. Từ đó tôi vừa chặt cây mở lối, tôi vừa gở gai đâm rướm máu trên người, có hồi tôi chui rúc lùm cây, có hồi tôi luồng lách bụi rậm, có hồi tôi bước qua tảng đá cản đường (tôi chọn hướng đi thẳng chớ không đi cong quẹo, khi đã mất phương hướng). Đắng lòng, miệng môi tôi khô rang, trời chắc đang chiều tối. Bỗng những hạt mưa rơi lộp độp trên đầu tôi, tôi bèn đưa tay vút mặt nghỉ ngơi một chút. Một con sóc tới gần chỗ tôi, nó ngó qua ngó lại tứ phía xem chừng. Lúc này tôi đưa mắt nhìn nó nguyện cầu, hy vọng nó sẽ làm bạn với tôi, đứng gần bên tôi giữa núi rừng cô độc. Nhưng tiếc quá, khi nhìn thấy tôi con sóc liền lũi trong đám lá khô dày cộm mất tiêu. Ôi diễn biến hạnh phúc xảy ra nhanh quá, nước mắt tôi tuôn rơi lả chả. Xin vĩnh biệt rừng hoang !
34. Tôi đi lạc vào vùng đất thiêng của núi rừng.
Tôi đang chúi nhủi phờ phạc trong rừng cầm rựa chặt cây mở đường, bỗng nhiên tôi thấy trước mặt có một dòng sông lấp lánh hiện hữu, phía trên là mặt trời đỏ ối lung linh. Lúc này cả bầu trời đang phản chiếu những sợi kim tuyến đủ màu sắc: tím, vàng, xanh, đỏ đan xen hiện lên không gian huyền bí. Hai mắt tôi lốm đốm hoa văn nhìn về phía trước. Đúng rồi, nhìn kỹ đó là xứ sở thần tiên của ông Bụt hiện ra đó mà. Tôi bắt đầu tin tưởng ông Bụt sẽ cứu tôi ra khỏi rừng rú cọp beo này, giống như truyện thần thoại mà tôi từng đọc. Tôi cảm thấy xứ sở ông Bụt là vô ưu, không giằng xé và không đắng cay, xứ sở lương thiện sẽ đưa tôi ra khỏi sự mê lầm. Gặp ông Bụt tôi sẽ kể hết cho ổng nghe cả ngày đi trong rừng, áo quần tả tơi, rách nát, gai đâm không kể xiết, sau đó ông Bụt đưa tôi tới một ngôi chùa quy y, giải nghiệp xong ông Bụt sẽ đưa tôi xuống núi về nhà. Thôi thế cũng được, còn hơn phải tiêu vong giữa núi rừng cọp beo, biết khi nào mới gặp lại ba má anh chị tôi đây. Mơ tưởng hồi lâu bỗng tôi dụi mắt mấy lần. Thì ra dòng sông mà tôi thấy chính là con đường nhựa dẫn lên đài Ra đa, hơi nóng cả ngày làm con đường tỏa khói thành dòng sông di động. Mặt trời đỏ ối là do buổi chiều trời sắp tối, ánh nắng xuyên qua bầu trời thành những sợi kim tuyến lấp lánh, thiên nhiên biến tấu sắc màu rực rở kỳ diệu mà thôi. Mừng quá, từ trên cao tôi nhảy xuống đường cái cái ào, đi vài bước tôi gặp người đón củi duy nhất vác củi xuống núi, tôi theo sau ông tiều phu mà thấy lòng ấm áp trở lại (đến giờ tôi vẫn tin ông tiều phu là ông Bụt dẫn đường tôi xuống núi). Mừng quá, tự nhiên tôi được sống lại, cũng từ đó tôi không đi củi nữa!
35. Lá phổi xanh bán đảo Sơn Chà.
Một hôm tôi đọc báo online Đà Nẵng biết rằng bán đảo Sơn Chà giờ đây “toang” hết rồi (từ toang là của báo), khó lòng cứu chữa: “Bán đảo Sơn Chà được mệnh danh là “lá phổi xanh” của thành phố biển nhưng mới đây thanh tra chính phủ đã phát hiện rất nhiều dự án xâm lấn đất rừng đặc dụng. Trong 18 dự án, có 4 dự án Ủy ban thành phố Đà Nẵng quyết định giao đất, cho thuê đất trước thời điểm Luật Đất đai năm 2003 có hiệu lực (gồm: khu du lịch sinh thái Biển Tiên Sa; khu du lịch Bãi Bụt; khu nhà nghỉ và du lịch sinh thái Bãi Trẹm; tổ hợp khu du lịch - dịch vụ cao cấp Sơn Chà); 8 dự án sau khi Luật Đất đai 2003 có hiệu lực; 6 dự án chưa có quyết định giao đất, cho thuê đất…
Đầu năm 2017, dư luận xôn xao trước việc một phần bán đảo Sơn Chà bị “cạo trọc” cây xanh, để lộ phần đất đỏ nham nhở. Chứng kiến cảnh núi rừng Sơn Chà bị san bạt, người dân bức xúc lên tiếng và chính quyền TP.Đà Nẵng đã vào cuộc xử lý. Từ đây lộ ra, Khu du lịch Biển Tiên Sa (chủ đầu tư là Công ty CP Biển Tiên Sa) chưa được cấp phép xây dựng mới hạ tầng, nhưng chủ đầu tư đã cho xây dựng 40 móng biệt thự kiên cố. Sở Xây dựng TP.Đà Nẵng đã lập biên bản đình chỉ thi công 40 móng biệt thự, đồng thời thực hiện giám sát việc đình chỉ, xử phạt 40 triệu đồng…”.
Do thói quen tôi đọc báo chữ Sơn Chà thay chữ Sơn Trà báo viết. Sự xâm hại Núi Khỉ Sơn Chà -
Monkey Mountain buồn quá không biết nói gì hơn !
36. Thăm quan Chùa Linh Ứng, Bãi Bụt Sơn Chà.
Tháng 7 hằng năm tôi thường về quê giỗ ba, ở lại chơi cả tuần, nhìn thấy thành phố Đà Nẵng phát triển tôi tự hào trong lòng. Lần này tôi có hứa sẽ đến thăm quan Chùa Linh Ứng và Bãi Bụt,
nghe nói ngành du lịch Đà Nẵng đầu tư khu vực này khá nhiều, khách du lịch tới đây tham quan đông đúc, coi thử. Tới nơi tôi thấy đây là khu du lịch liên hợp khá bài bản, dựa vào thiên nhiên ban tặng khi núi Sơn Chà dừng lại điểm cuối thì gặp biển, quanh núi các gành đá huôn luôn sóng biếc rì rào. Tại Bãi Bụt, trước hết người ta xây dựng một con đường quanh co chạy lên núi, đến điểm thích hợp thì người ta xây một ngôi chùa to lớn, tiếp theo là tượng Phật Quan Âm ngoài trời, chiều cao 67 mét, đường kính tòa sen 35 mét (cao nhất Việt Nam), kế bên là Nhà hàng bán đồ lưu niệm, khách hàng mua sắm đông đúc. Từ chỗ tượng Phật Quan Thế Âm đi về phía về trước xa hơn thì sẽ gặp các cửa hàng ăn uống dọc triền núi, nhờ lợi thế con đường bám theo gành đá khách du lịch hay tới đây ăn uống thư giản. Tham quan xong tôi ra về, bước xuống bậc tam cấp chùa Linh Ứng, trong lòng vui buồn lẫn lộn. Hình như tôi là người có tâm lý cổ điển, thích cũ hơn mới hi. Tôi vẫn biết ngành du lịch Đà Nẵng xây ngôi chùa và tượng Quan Thế Âm ở Bãi Bụt để kinh doanh thôi, tôi không đòi hỏi gì hơn về họ. Nhưng tôi cảm thấy con người can thiệp vào thiên nhiên Bãi Bụt nhiều quá, truyền thuyết tượng Phật trôi dạt vào Bãi Bụt người dân xứ này thờ phụng từ lâu giờ đây nó có hơi hám kim tiền.
37. Về Đà Nẵng tôi có gặp số bạn học hồi xưa trường Bồ Đề Sơn Chà.
Về lần này tôi gặp các bạn cũ trường Bồ Đề Sơn Chà ngày xưa, bèn rủ nhau tới khu du lịch Bãi Bụt lai rai hàn huyên tâm sự. Hiện tại các bạn cư ngụ tại Sơn Chà ít hơn trước nhiều, sau giải phóng các bạn học đều ở xa nhau, mỗi người mỗi cảnh, có bạn ở tỉnh này, có bạn ở tỉnh kia, trong đó có tôi thì ở Nha Trang, quê hương thứ hai của tôi. Ngoài ra các bạn học hiện tại đang định cư nước ngoài khá nhiều, nhờ facebook nên mới gặp lại nhau. Tiếc quá, tuổi học trò trôi đi nhanh quá, bây giờ chúng ta điều đã về già, đi đứng nói năng lẩm cẩm, đau ốm thì thường xuyên, có vài bạn đã về thế giới bên kia rồi, tính vô thường khắc nghiệt, nhưng rồi ai cũng như thế cả, chỉ còn lại giấc mơ hoa.
(Tháng 10 năm 2025)