Ủng hộ VCV
Số tác phẩm
30.459 tác phẩm
2.720 tác giả
2.030
141.682.608
 
Nhà văn Thái Bá Lợi - người sớm nhận ra góc khuất ở con người sau chiến tranh
Minh Tứ

 

Nhà văn Thái Bá Lợi   - Ảnh: T.L

 

Nhà văn Thái Bá Lợi sinh năm 1945 tại Quỳnh Lưu, Nghệ An. Ông nhập ngũ năm 1965, trải qua các chiến trường Trung Lào, Đường 9 (Quảng Trị), Tết Mậu Thân (Huế), từ năm 1969 vào mặt trận Quảng Đà. Từ năm 1971 ông là thành viên Ban Văn học Quân khu 5, sau đó đi học Trường viết văn Nguyễn Du khóa 1; công tác tại Hội VHNT Quảng Nam-Đà Nẵng; Trưởng Chi nhánh Nhà xuất bản Hội Nhà văn tại miền Trung - Tây Nguyên. Các truyện ngắn và tiểu thuyết tiêu biểu: Hai người trở lại trung đoàn, Thung lũng thử thách, Họ cùng thời với những ai, Còn lại với thời gian, Đội hành quyết, Trùng tu, Minh sư, Khê mama, Câu chuyện Đà Nẵng. Thái Bá Lợi đoạt nhiều giải thưởng của Tạp chí Văn nghệ quân đội, Hội Nhà văn Việt Nam, Ủy ban toàn quốc Liên hiệp các Hội VHNT Việt Nam, Giải thưởng VHNT thành phố Đà Nẵng, Giải thưởng văn học Đông Nam Á. Năm 2012 ông được tặng Giải thưởng Nhà nước về VHNT cho hai tác phẩm: Họ cùng thời với những ai, Trùng tu.

Tôi gặp nhà văn Thái Bá Lợi năm 2000 khi ông trở lại chiến trường xưa Quảng Trị đi thực tế tìm hiểu về sự trỗi dậy của vùng đất này vào thời điểm chuyển giao thế kỷ. Và mãi hơn 20 năm sau tôi được ông tặng Tuyển tập Thái Bá Lợi gồm 5 tập - Nhà xuất bản Hội Nhà văn, 2021. Tác phẩm của Thái Bá Lợi thì có nhiều, ở đây tôi chỉ dừng lại phân tích hai tác phẩm tiêu biểu cho hai giai đoạn sáng tác của nhà văn: Truyện ngắn “Hai người trở lại trung đoàn” và tiểu thuyết “Câu chuyện Đà Nẵng”.

Báo động sớm về sự tha hóa của con người sau chiến tranh

Thái Bá Lợi đến với văn chương từ những năm 70 của thế kỷ XX. Ông viết không nhiều nhưng là nhà văn được đánh giá cao bởi từ rất sớm, sau ngày đất nước thống nhất ông đã có tác phẩm viết về chiến tranh vượt ra khỏi lối viết nặng về ngợi ca của dòng văn học hậu chiến tranh thời bấy giờ. Những cảnh báo hiện tượng tha hóa về đạo đức của ông rồi sẽ thành vấn đề nhức nhối trong đời sống xã hội. Chính nhà văn từng chia sẻ: “Tôi viết Hai người trở lại trung đoàn là báo hiệu một thứ cơ hội, xấu xa sắp xuất hiện. Bây giờ cũng vậy, tôi viết về người tốt vì tôi thấy có một điều đó như thế rồi nó đến”.

Có thể nói Thái Bá Lợi là nhà văn sớm phản ánh cái cao thượng bên cạnh cái thấp hèn trong con người, mà cụ thể là người lính trong và sau chiến tranh. Trong truyện ngắn “Hai người trở lại trung đoàn” viết năm 1976, nghĩa là chỉ một năm sau ngày đất nước thống nhất, nhà văn rất điềm tĩnh để nhìn lại cuộc chiến tranh từ nhiều góc độ. Bên cạnh những con người với tình yêu thương đồng đội, yêu quê hương, đất nước, sự dũng cảm trong cuộc chiến đấu khốc liệt vẫn còn đan xen với những toan tính, cơ hội, sự phản bội tình yêu của con người khi bước ra khỏi chiến tranh. Điều đó đã nâng cao tính chân thật của tác phẩm và có sức cuốn hút người đọc.

Trong truyện đó là nhân vật Trí, một tổ trưởng trinh sát giỏi, lăn lộn trong chiến đấu, lập nhiều chiến công trên chiến trường Liên khu Năm, được cấp trên cho đi học tập, bồi dưỡng. Đến ngày đất nước thống nhất, anh được đề bạt làm cán bộ chỉ huy trung đoàn. Nhưng Trí cũng là người cơ hội, im lặng khi đồng đội của mình là Thanh bị hiểu nhầm để đến với cô gái xinh đẹp là Mây. Do hiểu sai về Thanh, một đồng đội gần gũi trong tổ trinh sát, Mây đến với Trí và có thai với người này. Bi kịch xảy ra khi Trí được ra miền Bắc để học tại Học viện Quân sự, anh ta đã phũ phàng với Mây, muốn bỏ Mây để lấy người khác. Chưa hết, Trí còn cho rằng đứa con Mây đẻ ra chưa chắc là con của anh ta, để Mây sinh con một mình ở nơi xa lạ trên đất Bắc.

Nhà văn Thái Bá Lợi mô tả Trí bên cạnh là một cán bộ trinh sát dũng cảm, lập được nhiều chiến công thì hạn chế ở anh là sự thiếu trung thực, gian dối trong tình bạn và phản bội trong tình yêu. Trong khi đó Mây vẫn yêu Trí một cách chân thành, vẫn giữ cho mình những kỷ niệm đẹp những năm tháng ở chiến trường gian khổ và ác liệt. Nhân vật Mây trong truyện được khắc họa là một nữ trinh sát can đảm, có tâm hồn trong sáng cùng với những bồng bột, lầm lỡ nhưng khi cần cũng rất kiên quyết, sòng phẳng.

Khi biết chuyện, Thạch - người thủ trưởng trung đoàn kiểm điểm Trí, yêu cầu Trí đến xin lỗi Mây. Anh ta tỏ ra hối hận và muốn hai người trở lại sống với nhau, hoặc có thể Trí muốn như vậy để an toàn, được leo lên một chức vụ cao hơn. Nhưng không ngờ Trí nhận được câu trả lời dứt khoát từ Mây: “Anh Trí à! Mọi điều đều muộn quá rồi. Em không thể làm theo anh được. Chúng ta không thể sống với nhau như trước được nữa”. Ở đây ta bắt gặp một người con gái xứ Quảng có tình yêu đẹp nhưng kiên quyết, không thỏa hiệp với cái xấu.Và cái kết truyện là rất mạnh mẽ. Một thời gian sau Thanh cũng ra Bắc và đến thăm Mây. Sự hiểu lầm cũ được giải tỏa, anh trở thành chỗ dựa cho Mây. Họ cùng chia sẻ ước muốn trở về Nam, trở lại trung đoàn.

Cũng cần thấy rằng năm 1976 đất nước ta vừa ra khỏi cuộc chiến tranh chống Mỹ nên âm hưởng chủ đạo trong văn học giai đoạn này là ngợi ca chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Tuy vậy với tư cách nhà văn, cũng là người lính tham gia cuộc kháng chiến, Thái Bá Lợi sớm nhận ra những góc khuất hiện hữu ở con người. Trong người lính trên trận chiến, ngay một người đã vừa mang phẩm chất anh dũng kiên cường với kẻ thù nhưng cũng có lúc không tốt với đồng đội. Có khi chỉ vì lợi ích cá nhân, họ đánh mất phẩm chất, đạo đức của người lính, của con người trong xã hội. Hãy xem thái độ của Mây khi nghe tin Trí được bổ nhiệm chức chỉ huy trung đoàn khi cô chia sẻ suy nghĩ với Thanh: “Em không muốn con em có một người cha như anh Trí và sau này nó hiểu sai về những năm tháng vừa qua của chúng ta…Bớt đi một điều xấu, tăng thêm một điều tốt cần những hy sinh…”. Đây là sự báo động sớm của nhà văn về sự xuống cấp của đạo đức.

Truyện ngắn “Hai người trở lại trung đoàn” của Thái Bá Lợi khi ra mắt bạn đọc báo hiệu một dạng người cơ hội chủ nghĩa và cuộc đấu tranh phức tạp chống lại biểu hiện tiêu cực đó sẽ còn lâu dài. Có người cho rằng truyện ngắn “Hai người trở lại trung đoàn” có vóc dáng của một tiểu thuyết không phải vì số trang mà vì dung lượng hiện thực dồn nén trong tác phẩm. Như vậy từ câu chuyện về chiến tranh hôm qua mà báo hiệu về một điều gì đó về hôm nay và ngày mai. Nhà văn Nguyên Ngọc đã từng nhận xét về đề tài trong tác phẩm của Thái Bá Lợi: “Nhận rõ về hôm nay để viết ngày hôm qua. Và dĩ nhiên để viết về hôm nay nữa”.

Nghe nói khi tạp chí Văn nghệ quân đội đăng truyện ngắn này vào thời điểm đó cũng có nhiều luồng dư luận trái chiều, một bên khen, một bên nghi ngại, cho rằng tác giả đã đi chệch đường ray, có cách nhìn sai lệch về người lính cách mạng. Ở thời điểm mới bước ra khỏi cuộc chiến tranh mà tác giả đã nhìn thẳng vào sự thật như một lời cảnh tỉnh về sự tha hóa của con người, trong đó có cả những người lính. Thời gian đã khẳng định giá trị của truyện ngắn “Hai người trở lại trung đoàn”. Sự thật về sau đã chứng minh sự cảnh tỉnh của nhà văn không hề lệch lạc. Hàng loạt vấn đề nhức nhối nảy sinh trong lòng xã hội sau chiến tranh đã đi vào đời sống văn học như là tất yếu xảy ra sau mọi cuộc chiến tranh và trong cuộc sống hòa bình. Nhà phê bình văn học Phạm Phú Phong có nhận xét rất xác đáng: “Với Thái Bá Lợi văn chương không phải là trò chơi sang trọng, không cần phải làm dáng, phải kiểu cách mà văn chương là đời sống, là máu và nước mắt, là món nợ cần phải trả, là những điều cần phải nói thay cho những người không trở về sau chiến tranh”.

“Câu chuyện Đà Nẵng” gắn với sự phát triển của một thành phố

Khi đọc “Câu chuyện Đà Nẵng”, nhiều ý kiến cho rằng cuốn sách dày hơn 300 trang của ông không phải là tiểu thuyết, có thể là truyện ký vì nó kể câu chuyện như ngoài đời ở Đà Nẵng, còn nhà văn Thái Bá Lợi thì khẳng định đây là tiểu thuyết, vì các tuyến nhân vật kết cấu theo tiểu thuyết để qua đó tác giả muốn gửi gắm những điều mình muốn tâm sự với bạn đọc. Chỉ có khác là ông lấy bối cảnh thành phố Đà Nẵng với nhiều nhân vật lấy cảm hứng từ những con người thực. Mà cũng chỉ một vài nhân vật giống với nguyên mẫu, phần lớn các nhân vật còn lại là hư cấu.

Đã có nhiều người khẳng định trong tiểu thuyết “Câu chuyện Đà Nẵng”, nhân vật Ba Danh, Chủ tịch UBND thành phố Đà Nẵng chính là nguyên mẫu ông Nguyễn Bá Thanh, chủ tịch thành phố ở thời điểm đó. Vì trong sách có nhiều nguyên mẫu, như các nhà thơ Thanh Thảo, Thu Bồn, chuyên gia trùng tu di tích Mỹ Sơn người Ba Lan Kazik… ; hay chuyện chủ tịch Ba Danh gặp gỡ, trò chuyện với 500 phạm nhân vừa mãn hạn tù; cấp căn hộ chung cư cho bà mẹ theo ước nguyện của một cậu bé bị ung thư giai đoạn cuối; ký giấy miễn thuế tại chỗ cho một bà bán ốc hút…nên có người cho rằng “Câu chuyện Đà Nẵng” là câu chuyện kể về ông chủ tịch thành phố Nguyễn Bá Thanh ở ngoài đời.

Trong tiểu thuyết nhân vật chủ tịch thành phố Ba Danh được khắc họa là người lăn lộn với thực tế, từng trải qua những chức vụ ở các cấp cũng gần trùng khớp với trích ngang của ông Nguyễn Bá Thanh: “Xuất thân nông dân trong gia đình cách mạng nòi, được đào tạo chính quy ngoài Bắc, từng làm chủ nhiệm hợp tác xã, giám đốc nông trường, phó chủ tịch huyện, giám đốc sở nông nghiệp trước khi làm chủ tịch thành phố. Quyết đoán, làm việc gì cũng phải nhanh gọn, không cù nhầy. Táo bạo nhưng tính toán”. Như vậy nếu soi vào thực tiễn thì nhân vật Ba Danh gần giống với ông Nguyễn Bá Thanh, chủ tịch thành phố lúc bấy giờ, người đã có vai trò quan trọng làm thay đổi vóc dáng để Đà Nẵng trở thành một thành phố năng động, đáng sống.

Hay nhiều công việc được tái hiện trong sách như việc xây dựng cây cầu quay đầu tiên ở Việt Nam, mở rộng đường sá, giải tỏa đền bù, chỉnh trang đô thị… đều có thật ở thành phố này. Nhà phê bình văn học Nguyễn Chí Hoan cho rằng cuốn tiểu thuyết của Thái Bá Lợi làm một cuộc mạo hiểm văn học mổ xẻ cái chủ đề thời sự về một thành phố hai mươi năm làm cuộc “đổi đời” để trở nên là thành phố đáng sống nhất Việt Nam và về danh nhân hiện đại của thành phố này là ông Nguyễn Bá Thanh. Có lần nhà văn Thái Bá Lợi chia sẻ: “Nếu tôi viết về ông Thanh thì chắc chắn tôi sẽ viết về tấm lòng của ông ấy với thành phố này. Tất nhiên trong quá trình xây dựng thành phố thì sẽ có chuyện này, chuyện khác, có sai có đúng như các bạn đã biết, nhưng tựu trung lại là ông ấy quyết tâm bằng mọi cách để cái thành phố này đi lên”.

Ở một góc nhìn khác, trong “Câu chuyện Đà Nẵng” Thái Bá Lợi đã dụng công xây dựng nhiều nhân vật có ấn tượng, nổi bật là Ba Danh, chủ tịch thành phố và các kỹ sư xây dựng: Văn Minh, Quý gắn với việc xây dựng cây cầu quay bắc qua sông Hàn. Một nhóm nhân vật khác là nhà phục chế Kazik, người Ba Lan cùng các cán bộ văn hóa: Bảo Thường, Khiết và Thu gắn với việc trùng tu thánh địa Mỹ Sơn, về cách nhìn nhận giá trị di sản đô thị cổ Hội An. Yếu tố tiểu thuyết trong “Câu chuyện Đà Nẵng” được thể hiện ở nhân vật Trần Dạ, một trí thức của thành phố, xin từ chức người đứng đầu ở một phường của thành phố để về dạy tiếng Anh nuôi sống gia đình và chăm sóc mẹ già. Ông cũng như thầy Hạ, một trí thức lớn của Đà Nẵng luôn được chủ tịch thành phố Ba Danh hỏi ý kiến và là người đi suốt câu chuyện, kết nối các nhóm nhân vật và chứng kiến những biến cố từ đầu đến sau cùng.

Nếu bóc tách từng nhân vật, thì mỗi nhân vật trong tiểu thuyết mang một phong cách, cá tính. Chẳng hạn khi tiếp xúc cử tri, có người hỏi ông chủ tịch thành phố: “Tui nghe nói cán bộ thành phố làm việc năng nổ, tích cực nhưng cũng ăn nhiều, cũng tham nhũng ấy mà. Xin hỏi ông chủ tịch có ăn không?”, Chủ tịch Ba Danh trả lời: “Nếu nói không ăn thì bà con không tin. Xã hội bây giờ có người làm mười ăn mất bảy, có người không làm được việc gì cụ thể cho dân cũng ăn. Tui xin hứa với bà con là phải làm hết sức, nếu có ăn thì phải ăn chính đáng bằng công sức của mình, vậy có sòng phẳng không?”. Ở đây Ba Danh hiện lên là một lãnh đạo có tính cách mạnh mẽ, lòng dạ thẳng ngay, hành động quyết liệt, ghét sự trí trá, gần giống với tính cách người Quảng, nhưng ở ông cũng có điểm yếu là sự nôn nóng, độc đoán…

Cũng có những nhân vật trong “Câu chuyện Đà Nẵng” chỉ thoáng qua nhưng đã ở lại trong lòng độc giả. Như người mẹ của Ba Danh là người có sắc đẹp, chồng tập kết ra Bắc, giữa bao cạm bẫy của hệ thống quyền lực chính quyền Sài Gòn bà đã biết hành động khôn khéo, quyết liệt để giữ được sự thủy chung với chồng, lòng trung với nước và tạo cho con những bước đi vững chắc giữa bão táp của cuộc đời.

Đó còn là nhân vật Thu trong cặp đôi Khiết-Thu. Thu là một nữ sinh Đà Nẵng, có cha là một trung tá an ninh Sài Gòn, từng tham gia đàn áp tù nhân cộng sản. Vậy mà oái ăm thay cuộc đời Thu lại gặp Khiết, một cán bộ có uy tín trong phong trào đấu tranh ở đô thị, một cựu tù kiên trung ở Côn Đảo. Thu rất yêu quý Khiết nhưng luôn mang mặc cảm cha mình từng tra tấn Khiết. Trong khi đó dù rất yêu quý Thu, biết cha của Thu bị giam giữ ở đâu và tội trạng của ông nhưng Khiết giữ im lặng, không bao giờ hé lộ. Hai người gắn bó, đi đâu cũng có nhau, nhưng không đến được với nhau. Người con gái xứ Quảng ấy chinh phục trái tim của Khiết khi cô không chịu sửa lý lịch bằng câu chữ cho nhẹ đi để được vào làm ở một đơn vị do Khiết giới thiệu, bởi cô cho rằng cha mình làm gì cho chế độ cũ thì cứ khai như thế. Cái kết chuyện tình của họ thật buồn: Thu xuống tóc đi tu ở một ngôi chùa, còn Khiết thì lang thang ở rừng sâu đi tìm những viên đá quý mà chẳng biết để làm gì!

Trong “Câu chuyện Đà Nẵng” các nhân vật cũng được phân tuyến, một bên là những người dám nghĩ dám làm, nhìn xa trông rộng, vì lợi ích chung, làm hết sức để xây dựng thành phố quê hương; còn một bên là những người chống đối, vì cái lợi, cái danh, thủ cựu, chống lại cái mới… Đây là một cuộc đấu tranh căng thẳng và thời gian, thực tế là câu trả lời một khi người lãnh đạo quyết tâm thực hiện những công trình, những công việc ngày thường tốt đẹp, vì nước, vì dân thì người dân luôn biết ơn và kính trọng. Tiểu thuyết còn đưa ra một thông điệp là những người hết lòng hết sức sống vì quê hương, cộng đồng, làm được nhiều việc cho người dân thì họ sẽ sống mãi trong lòng người dân. Qua đây nhà văn cũng cảnh báo nguy cơ tiềm ẩn về các mối quan hệ liên quan đến quyền lực trong nội bộ lãnh đạo thành phố, thể hiện sự dũng cảm của nhà văn, đem văn chương tham gia vào cuộc sống sôi động ở bên ngoài xã hội.

Như vậy “Câu chuyện Đà Nẵng” là một tiểu thuyết, nhà văn Thái Bá Lợi có quyền hư cấu, cho dù trong tiểu thuyết có bối cảnh, thời gian và địa danh cụ thể.

           

 

Minh Tứ
Số lần đọc: 656
Ngày đăng: 23.03.2026
[ Trở lại ] [ Tiếp ]
In tác phẩm Góp ý Gửi cho bạn
Cùng thể loại
Những con chữ đối thoại của Trương Văn Dân - Nguyễn Thị Tịnh Thy
Từ Vũ - người giữ “Hoa lương thiện” giữa hai bờ biển - Hoàng Thị Bích Hà
Dặm trời bâng khuâng, hành trình của một tâm hồn nhà văn và con mắt tinh tế của người làm báo - Hoàng Thị Bích Hà
Về nghe gió hát tình ca - Hoàng Thị Bích Hà
Trang Tôn Kinh Huyền Hoặc và Tây Du Ký: Hai cách kể về hành trình tìm đạo” - Phan Tấn Uẩn
Đặng Thơ Thơ - Rong chơi ngoài thời gian - cõi vạn hoa của sáng tạo - Nguyễn Thị Khánh Minh
Bùi Giáng : Mười năm “Chết Giỡn” - Võ Công Liêm
Giới thiệu tác phẩm : The Melancholy of Resistance (*) của László Krasznahorkai (Nobel Văn Học 2025) - Phan Tấn Uẩn
Đỗ Hồng Ngọc và chuyện hồi đó - Trần Thị Nguyệt Mai
Gã khờ hay thằng ngốc Việt Nam còn sót lại ở đầu thế kỷ 21 này? - Đặng Xuân Xuyến
Cùng một tác giả
Về làng (truyện ngắn)
Ảo ảnh (truyện ngắn)
Bạn cũ (truyện ngắn)
Nỗi buồn ký giả (truyện ngắn)