Ủng hộ VCV
Số tác phẩm
30.459 tác phẩm
2.720 tác giả
1.687
141.694.108
 
Gửi mai sau
Hoàng Dân

 

 

Một nhóm người ở Tây Nguyên leo lên một đỉnh núi khá cao để rà phế liệu. Họ bỗng sững lại khi nghe tiếng máy dò rít lên lanh lảnh. Nhìn quanh thì chỉ thấy cây cối xanh um. Họ bèn bảo nhau dùng dao chặt cây phạt cành để xác định nơi có sắt thép phế liệu. Tiếng máy dò vẫn réo rắt đổ hồi… Họ cho rằng sẽ lại vớ được một quả bom hoặc vài viên đạn pháo nào đó. Họ đã từng nhiều lần kiếm được những thứ như vậy ở khắp nơi trong những cánh rừng Tây Nguyên mênh mông này. Có khi là vài ba quả bom, lại có khi là cả một hầm chứa đạn pháo khá lớn. Họ - Những người đang mưu sinh bằng một cái nghề cực kì nguy hiểm, cái nghề bát cơm phải đổi bằng mồ hôi và cả máu! Nhưng chớ khuyên họ từ bỏ cái nghề khủng khiếp này, bởi đã là con người thì chẳng có ai lại chịu ngồi yên một chỗ, nhịn đói để chờ… chết già! Họ chấp nhận đối mặt với những rủi ro sinh tử mà nặng thì mất mạng bởi những quả bom hoặc những viên đạn pháo bất thần phát nổ trong quá trình đào bới, vận chuyển. Nhẹ là những ca gãy chân què tay bởi những quả bom nặng hàng trăm kí lô đè lên người hoặc bị trượt chân trên những đỉnh đèo cuối dốc… Những người kiếm sống bằng cái nghề này chẳng có ai giàu cả, bởi cứ ráo mồ hôi là hết tiền, thậm chí còn nợ nần khi chẳng may phải làm đám ma lúc toi mạng hoặc phải thuốc thang khi bị tai nạn. Nhưng nếu có phóng viên báo chí nào đó tò mò hỏi họ rằng: “Tại sao không kiếm sống bằng những nghề khác cho nó an toàn?” thì họ cười rất chi là hồn nhiên: “Ruộng đất không có một tấc, vốn liếng không có một xu…, vậy thì biết làm cái nghề chi mô?”…

Và đây! Họ bỗng rú lên trước một đống súng AK hoen rỉ! Họ ngồi vây quanh đống sắt rỉ và lần mần đếm được cả thảy 9 khẩu súng AK… Một người đứng ở phía sau chợt la to: “Trời đất! Dép đúc… Đúng là của mấy anh Giải phóng hồi nào rồi…”. Vậy là bên cạnh 9 khẩu súng AK là 9 đôi dép cao su đế đúc mà các dây quai đều đã bị lão hóa mủn nát… Họ ngồi thừ ra, người nọ nhìn người kia, ngẩn ngơ dưới trời xanh mây trắng và gió lộng bốn bề… Mọi lần, hễ tìm thấy phế liệu là họ reo hò và lập tức hùng hục đào bới … Nhưng lần này, tự nhiên, không ai bảo ai, tất cả đều lặng đi…

Một người lên tiếng:

- Vậy là có tới 9 anh Giải phóng đã nằm lại đây từ hồi chiến tranh tới giờ (1995) mà không ai hay biết chi hè?

Người khác:

- Tội cho mấy ảnh quá, chẳng biết quê quán chi mô?

Một người đang ngồi đếm đống dép cao su xem thử có đủ 9 đôi không bỗng reo khẽ:

- Cha trời…

Thì ra dưới đống dép cao su có một cái bọc được bó bằng những tấm võng dù. Những lớp võng dù vừa mó tay vào đã tơi vụn ra như cám. Bên trong những lớp võng dù là những lớp nilon, tuy đã bị lão hóa nhưng vẫn còn dỡ ra từng lớp được. Trong cùng là một cái lọ dài cỡ 10 phân, to cỡ ngón chân cái, miệng nút bằng nilon cuộn lại. Trong cái lọ có một cuộn giấy nhỏ. Họ thận trọng lấy cuộn giấy đó ra… Thì ra đó là một bức thư:

…

GỬI MAI SAU… VÀ… CẦU MONG MỘT SỰ TÌNH CỜ…

Tôi là người lính cuối cùng của tiểu đội còn đủ sức cầm bút viết bức thư này, bởi 8 đồng đội của tôi đã lần lượt trút hơi thở cuối cùng ngay trước mắt tôi, mà tôi chỉ có thể… nhìn, không làm gì được và cũng… không thể khóc được!

Tiểu đội tôi có 9 người, 2 người quê Phú Thọ, 3 người quê Thái Bình, 3 người quê Nghệ An và tôi: học sinh Hà Nội!

Trung đoàn tôi tấn công một căn cứ biệt kích tổng hợp của bọn Mĩ. Sau ba ngày ba đêm liên tục chiến đấu nhưng trung đoàn tôi vẫn không thể xóa sổ được căn cứ này. Địch dùng phi pháo quăng bom và nã đạn suốt 24 giờ/24 giờ khiến trung đoàn tôi bị tổn thất nặng và buộc phải rút lui. Biết quân ta bỏ cuộc, địch liền tung quân truy kích. Tiểu đội tôi được giao nhiệm vụ đánh lạc hướng địch để trung đoàn rút lui an toàn.

Chúng tôi bảo nhau vừa chạy ngang dọc trong rừng, vừa nổ súng giương đông kích tây và cố gắng bằng mọi cách, kể cả hô hét xung phong loạn xạ… với mục đích phải làm cho bọn địch bị mất phương hướng, không thể đoán biết quân ta rút đi đường nào! Và cuối cùng, do sợ bị mắc bẫy phục kích của quân ta, bọn địch đành bỏ dở cuộc truy kích và rút quân về căn cứ. Vậy là chúng tôi đã hoàn thành nhiệm vụ!

Cả 9 đứa chúng tôi đều còn sống sau cuộc đọ súng thật mà như đùa đó, nhưng cả 9 đều bị thương khá nặng hoặc rất nặng.

Chúng tôi cố gắng dìu nhau lên đỉnh núi này để được cùng nhau ngắm lại bầu trời cao xanh thăm thẳm, để được tận hưởng những cơn gió mát lành đầy hưng phấn và để được phóng tầm mắt nhìn ra những cánh rừng bạt ngàn tít tắp dưới kia.

Tiếp theo đó là những ngày chúng tôi nằm mê man thiêm thiếp vì kiệt sức, vì đau đớn, vì đói khát… Không ai còn đủ hơi sức nhúc nhích nữa!

Và cái gì đến phải đến!

Ngày 7.8.1968: Hai người hi sinh!

Ngày 8.8.1968: Thêm một người nữa hi sinh!

Ngày 9.8.1968: Các vết thương mưng mủ và bắt đầu có dòi…

Ngày 10.8.1968: Những con dòi màu trắng đục, béo mẫm cứ thi nhau ngụp lặn hả hê trong máu mủ trên những vết thương của chúng tôi mà chúng tôi thì không thể làm gì được chúng! Chúng tôi có cảm giác sợ hãi, kinh tởm và bất lực, chỉ còn biết quay mặt đi để khỏi thét lên vì tuyệt vọng…

Ngày 11.8.1968: Thêm hai người nữa hi sinh!

Ngày 12.8.1968: Thêm ba người nữa hi sinh!

Vậy là chỉ còn lại một mình tôi đang ngắc ngoải! Tám đồng đội của tôi đã chết vì đói khát, vì bị nhiễm trùng và hoại tử… - Những cái chết lặng lẽ, lãng xẹt, vô nghĩa lí… mà chắc chắn “mai sau” không một đầu óc giàu trí tưởng tượng nào có thể hình dung nổi! Tám con người ấy không trăng trối điều gì, chỉ cố mở mắt nhìn những người còn sống như thể muốn níu kéo chút ánh sáng cuối cùng trên dương thế, trước khi biến mất trong bóng đêm vĩnh hằng! Tôi đã lần lượt bắt gặp từng ánh mắt như thế và mỗi lần đều có cảm giác như trái tim mình đang bị dìm vào một cái bể băng giá lạnh lẽo kinh hoàng…

Khi chỉ còn trơ lại một mình, tôi mới chợt cảm thấy sợ hãi! Sợ sự cô đơn giữa trùng điệp núi rừng âm u bí ẩn… Sợ bóng đêm tối tăm hãi hùng… Sợ những cái thây người đang trương lên, phân hủy và  rất nặng mùi… Và tôi bỗng thèm được chết! Nhắm mắt, nhịn thở để chết! Nhưng vẫn chưa thể chết được! Kì quái thế đấy! Trước đây, mỗi lần bò vào sát hàng rào địch hoặc nằm chờ giờ G để nổ súng, tôi đều hồi hộp sợ hãi; nhưng khi súng đã nổ thì lập tức bay biến nỗi sợ, chỉ còn niềm hứng khởi xung trận, bởi những khi ấy bên cạnh tôi là hàng chục hàng trăm đồng đội! Và còn vì những tiếng súng nổ chát chúa, vì mùi khói súng khét lẹt, vì những tiếng reo hò xung phong bất tận… đều giống như một thứ thuốc đặc hiệu hóa giải những khoảnh khắc yếu đuối của tôi.

Còn bây giờ, bốn bề đều lặng ngắt, cho nên nỗi sợ cứ dày lên, gần như hoảng loạn…

A! Tôi khẽ reo trong đầu! Tôi từng có 10 năm mài đũng quần trên ghế nhà trường kia mà? Vậy tại sao trước khi chết, tôi không ghi lại vài dòng gửi tới mai sau? Và biết đâu có một sự tình cờ nào đó khiến ai đó sẽ đọc được những gì tôi viết hôm nay? Như thế chả hơn 9 bộ hài cốt chỉ còn là nắm đất mùn vô tri vô giác, vô hình vô ảnh? Thế là tôi lục lọi trong ba lô các đồng đội, moi ra những tờ giấy, những chiếc bút bi chiến lợi phẩm… để ngoáy những dòng chữ… tuyệt mệnh vô cùng ngẫu hứng này!

GỬI MAI SAU…

CHÚNG TÔI GỒM CÁC LIỆT SĨ:

1. Nguyễn Văn Mệnh, quê Phú Thọ.

2. Nguyễn Văn Tịnh, quê Phú Thọ.

3. Lê Văn Tán, quê Thái Bình.

4. Nguyễn Trọng Khai, quê Thái Bình.

5. Hoàng Văn Báo, quê Thái Bình.

6. Thái Văn Lễ, quê Nghệ An.

7. Nguyễn Văn Khảm, quê Nghệ An.

8. Trịnh Hùng Cường, quê Nghệ An.

9. Đoàn Việt Ánh (là tôi), quê Hà Nội.

Tôi thay mặt 8 đồng đội đã “đi” trước, xin gửi tới tất cả những bạn trẻ ở độ tuổi đôi mươi như chúng tôi lời chào thân ái và cầu mong các bạn không bao giờ phải lặp lại cảnh ngộ như chúng tôi bây giờ!

Tôi cũng thành tâm cầu mong có một ai đó tình cờ đọc được bức thư này của tôi để thắp cho chúng tôi một nén nhang! Chỉ thế thôi là tôi và các đồng đội của tôi cũng đủ mãn nguyện rồi…

Người viết thư

Đoàn Việt Ánh

VĨNH BIỆT…

*

Những người rà phá phế liệu ngồi im phắc… Những giọt lệ lăn dài trên những gương mặt nhăn nheo lam lũ… Những giọt nước mắt của tình đồng loại, tuy muộn màng nhưng vẫn hơn là… không bao giờ có!

Rồi, không ai bảo ai, tất cả họ lặng lẽ đứng dậy, gom nhặt những đôi dép đúc mủn nát xếp chồng lên đống súng AK hoen rỉ và xúc đất đắp lên đống “phế liệu chiến tranh” thành một ngôi mộ lớn!

Rồi họ đốt một nắm nhang (thứ họ luôn mang theo để phòng khi có người tử nạn) cắm lên ngôi mộ…

Xong xuôi, họ đứng vây quanh ngôi mộ, chắp tay, cúi đầu…

Gió chiều mơn man trên những mái tóc rối bù của họ…

Đâu đó có một tiếng hú dài thảm thiết của một con vượn, có thể là nó đã bị dính bẫy hoặc dính đạn của những kẻ đi săn…

 

TB, 30.4.2018

 

Hoàng Dân
Số lần đọc: 347
Ngày đăng: 27.03.2026
[ Trở lại ] [ Tiếp ]
In tác phẩm Góp ý Gửi cho bạn
Cùng thể loại
Người tử tế như anh - Hoàng Dân
Sóng biển dào dạt - Hoàng Dân
Bông”Cẩm Tú Cầu” giữa gió đời - Hoàng Thị Bích Hà
Mall of America - Phan Tấn Uẩn
Các “Giáo chủ” hiện đại. Thiên đường và địa ngục - Nguyễn Anh Tuấn
Mộ liệt nữ - Hoàng Dân
Cái lạnh xứ Bắc - Hoàng Dân
Đóa hồng còn lại (Phần cuối) - Đỗ Nguyễn
Bạch ca nương - Đỗ Nhựt Thư
Người yêu Sài Gòn - Lãng Thanh