Kíng dâng: Song thân.
Pháp giới là một trong ba ngôi báu Tam Bảo của nhà Phật: Phật Pháp Tăng. Pháp giới là một thu tập của 423 cách ngôn, ngạn ngữ; đều nằm trong thể thức kinh kệ Pali. Răng gọi là kinh kệ Pali. Nó là điạ phận thuộc đất Nam Dương? -Không hẳn rứa mô. Pali: một ngữ ngôn thiêng liêng của Phật giáo [sans=thần trí . pãli=kinh điển, giáo điều]. Tập hợp lại và coi trọng bởi tín đồ Phật giáo ở phương nam.
Dùng để truyền giảng cho tín đồ tu Phật pháp (Buddhist dhamma) hoặc coi như là hệ thống luân lý đạo đức. Có thể đây là một công phu biên soạn để thành kinh, không còn những gì để gọi là ‘kệ’ (verse form). Kinh pháp xuất hiện vào đầu thế kỷ thứ ba (BC). Những vần điệu này được kinh hóa cuộn vào nhau như một cố công hướng tới Niết Bàn –The verses encompass the struggle towards Nirvana; đó là mục đích tối thượng thừa của Phật giáo: Là phương tiện đưa tới cứu cánh giải thoát và chú ý tới một cách chi li trên hướng đường đi tới tuyệt đối toàn thiện (Path of Perfection) là con đường dẫn độ đến Pháp giới. Trong Pháp giới chúng ta có thể nghe tiếng nói của Phật. Một phẩm kinh tin tưởng tuyệt đối như ngọn đuốc soi sáng và lòng từ bi của tình thương, là một hòa nhập lớn lao nhất, sản phẩm thiêng liêng của con người. The gospel of light and of love is amongst the greatest spiritual works of man. Mỗi vần thơ tợ như tinh tú trên trời và tất thảy là hào quang tỏa rạng muôn phương của thời gian vô tận.
Thông thưòng chúng ta gọi Pháp là Dharma; rút từ Phạn ngữ (Sanskrit). Ngay cả trong chùa cho tới ngoài đường đều nhìn nhận như một ‘pháp-môn’. Biến Pháp thành kinh, thành kệ hay cho đó là giáo điều kinh điển. Suy tư như thế là ôm đầm cho một giáo lý tối thượng, bởi; chưa chịu phân tích nguồn cơn tự sự do đâu mà có và do đâu mà ra. Kiểu này như gọi ăn chay là tu Phật. Sai lầm hoàn toàn. Răng rứa? -Trời ơi là trời! Ông Phật đâu có rao giảng như rứa. Mà thế gian quan niệm và rao giảng như rứa. Nếu đã lầm đường lạc lối thì nên quay về với chính pháp. Đọc kinh sám hối để giải thoát những tàn tích cố cựu nô lệ giáo điều. Nguyên nghĩa của nó xuất xứ điển Pali qua ngôn từ Dhamma. Đầu ngữ của Bhagavad Gita có nghĩa là Giới trí. Giới là chi rứa? Có phải là thế giới không? -Hỏi chi lung tung rứa! Giới là Tánh gọi chung là giới-tánh. Một phạm trù trong triết lý nhà Phật. Tánh còn có nghĩa khác là Không; tức tánh-không. Lãnh điạ của Pháp là lãnh vực của Chân lý sự thật –the field of Dharma the field of Truth, là; một sự chú tâm trong phong cách đảnh lễ. Một phương ngữ thuộc kinh điển của người tu Phật –the language of the Buddhist scriptures…thịnh ở Tích Lan , Miến Điện và Nam Dương (phát huy mạnh ở Pali). Từ khởi điểm đó người ta nhìn Pháp như luật (giới): Phật giới, Pháp giới và Tăng giới. Một luật tắc vô hình nhưng hữu hình; nó bao trùm một tính chất siêu hình trong giáo phái. Là; một giới hạn ngăn ngừa những gì là dục-tính trong con người, tức ngã mạn. Giải thoát ở chính mình để đi tới chánh pháp. Rứa là răng? -Là răng rứa. Con người vốn có bản chất tư kỷ cho nên phải lấy Pháp để chửa căn bệnh trầm thống là đạt tới chân-không của chân lý sự thật; đó là phép tu Phật chớ bi chừ có nói chi đi nữa cũng ngoài ý của ông Phật. Rứa cho nên Phạn gọi là Pháp (Dharma) còn Pali gọi là Pháp giới (Dhammmapada). Từ cái chỗ đó Đại Thừa, Tiểu Thừa dựa vào Phạn gọi Niết Bàn (Nirvana) Pali thì gọi Niết Bà Na (Nibbana). Tức gián tiếp nhắc người tu Phật đạt chánh quả là đạt tới Niết Bàn (chớ đâu có Niết Bàn để mà mong. Niết Bà Na là tâm-như-phật. Có hay không ở tại lòng ta). Phật Pháp chỉ có cái nhìn tuyệt đối là chân-không. Siêu lý nhà Phật nằm ở chỗ đó. Còn lý luận này nọ đều là vô nghĩa. Mà vô nghĩa là không thực quả của pháp-môn. Rứa thì Phật muốn chi? -Chẳng muốn chi. Mà tiêu diệt toàn thể để trở nên Như-Phật, Như-Lai, Như-Tạng-Tính vì tất cả là Như-Không (Nothingness). Pháp giới nằm trong ngữ ngôn đó. Một chân lý tối thượng thừa trong phép tu Phật; không nói gì thêm hơn nữa. Theo kinh điển của Pali là trông cậy vào mười một (11) lần của ‘điều răn’ như trong Thánh kinh (Thiên Chúa giáo). Bên cạnh giáo điều của Pali là bao gồm một triết lý rộng lớn của Phật giáo; một thứ văn chương phong phú và vi diệu đều được ghi chép trong Phạn ngữ; từ đó Trung Hoa và Tây Tạng chuyển dịch từ văn bản và chiếu chỉ về sau như truyền thừa ở các nước Đông Á qua phép tu học Phật pháp.
Từ ngữ Dhamma là tối quan trọng trong Phật giáo và phía sau đó là một ngữ ngôn đơn thuần cho nghĩa cử dâng hiến niềm tin tột đỉnh; mà trong những gì ghi lại đều mang một ý nghĩa ‘cung dưỡng, tồn lại / to support, to remain’ và coi như luật giới, một thứ luật luân lý, một luật tắc thuộc tinh thần thiêng liêng của những gì trong sáng thanh cao, một pháp giới vô biên của vũ trụ -là chân lý- không thể sửa đổi hay thay vào đó một luận cứ nào khác kinh điển của Phật giáo –And thus of ‘law’, a moral law, a spiritual law of righteousness, the eternal law of universe -Truth- Trong Pháp chúng ta sẽ bắt gặp từ ngữ của ‘Pada’ mà cả hai Phạn và Pali đều cùng một quan niệm cho đó là ‘dấu vết / footstep’ và từ đó có nghĩa là con đường dẫn tới pháp giới –and then has the meaning of a path. Rứa cho nên chi ghép lại thành ‘Bước đi Pháp giới / Dhamma-pada’. Đúng là con đường của cuộc đời, con đường độc lập, tự chủ và tự mình ‘thắp đuốc mà đi’ đó là bước khởi đầu, bước hành động đi vào đời để đưa dẫn chúng ta đến tuyệt đích tối thượng của chân lý sự thật. Của ánh sáng, của tình yêu, của cuộc đời đang sống; là con đường hướng tới Niết Bàn. Theo Thiên Chúa giáo gọi là đường tới nước Trời (path of God) tức tới Thiên Đường cũng như tới Niết Bàn. Trong Pháp kinh Kim Cương có ghi như thế này: ‘Ta phải dẫn vô lượng chúng sinh vào vô-dư Niết Bàn. Nhưng thực ra; không có chúng sinh nào vào Niết Bàn cả’. Dù cho; nếu chúng ta không đến cuối đường chân lý đó thời chúng ta cũng thỏa thê hành đạo cái của riêng mình đúng nghĩa của người tu (ngay cả tu Thiền đều một thể). Răng nghe như có cái chi ngoài lề? -Mô có. Nó rứa đó! Đó là cái lẽ của Pháp giới. Pháp nghe qua tưởng dễ nhưng hành không phải dễ; nó có cái không của có và có cái có của không. Rứa thì có vòng vo tam quốc không? -Vòng vo ở cái chỗ mô? Vì rằng; chúng ta có thể mua được Pháp không tốn một xu và cũng chẳng để giá mà mua / without money and without price. Rứa thì răng đây? -Đó là những gì trong chân lý của con đường dẫn đến cho chúng ta một con đường toàn thiện tuyệt đối (the Path of Perfection). Có như vậy; may ra chúng ta đả thông đôi điều tới cái siêu lý đạo Phật. Còn bằng không tu chơi cho vui thôi. Tụng kinh, gõ mõ chơi cho vui thôi. Ăn chay niệm Phật chơi cho vui thôi. Răng rứa? -Có chi mô mà răng với rứa cho mệt. Bởi; ông Phật không nghe, không thấy, không biết; tức đã ngộ được vạn vật giữa thế gian này, vì; ‘Phật vô ngã mà hữu ngã. Chúng sinh hữu ngã mà vô ngã’. Rứa thì làm răng bi chừ đây? -Người tu học Phật pháp có một mục tiêu chính là phá trừ: Ngã, Pháp, Tướng (chấp) thời mới thành đạo. Dẫu có tu mấy ngàn kiếp đi nữa khó mà đạt tới chân-như-phật; nếu không lột bỏ một bản ngã tự tại thì làm răng tồn lưu, tồn lại và tồn thể để có một Phật Pháp Tăng. Từ ngữ gọi Phật đến từ nguồn gốc của Bụt (Buth) (chữ này tỳ kheo Nhất Hạnh hay dùng để gọi Phật) Phật người miền Bắc xứ ta đã từng gọi là Bụt. Rứa thì kêu ‘bụt’ hay ‘phật’. Bụt/Phật đều một nghĩa là Bồ-Đề. Bồ-Đề là thức tỉnh, ý thức về; để nhận biết –to be awake to conscious of; to know. Đi từ chỗ Bụt (Buth) đến Bồ-Đề (Buddhi) là những từ ngữ tìm thấy ở Bhagavad Gita (Trí giới) có nghĩa cho một ngữ cảnh khác: Trí tuệ (wisdom) thông đạt (intelligence), nguyên lý (reason) thị giả (version). Nó là năng lực, thể chất của con người giúp cho Pháp vạch ra các sự khác biệt giữa sáng và tối, giữa trí năng và giới hạn, giữa đẹp và xấu, giữa tội lỗi (evil) và xấu xa (ugly), những gì là sự thật có từ những gì sai lầm. Có như rứa trợ vào Pháp mà đi tới con đường toàn thiện. Đây lời khấn nguyện vô cùng rút từ kinh Giới Trí (Bhagavad Gita và Upanishads). Lời kinh như sau:
Từ ảo giác đưa tôi đến Chân lý.
Từ bóng tối đưa tôi đến Cõi Sáng.
Từ nơi chết đưa tôi đến Vĩnh Hằng.
(From delusion lead me to Truth.
From darkness lead me to Light.
From death lead me to Immortality.)
Thế gian lần mò một cách chậm rãi để thức tỉnh giữa giác ngộ và giải thoát và thi nhân, nghệ nhân đều mơ về và mỗi khám phá là một thức tỉnh, một đánh động từ tâm hồn; nhưng sau những gì của mộng ảo con ngưới đôi khi bất tận trong giới hạn và trong cái vô hạn là nằm trong miên viễn; những thứ đó tạo cho con người có thể ở thi ca và nghệ thuật và khám phá ra những kỳ quan thực nghiệm khoa học, cái sự đó là hoàn toàn thức tỉnh giữa nội giới và ngoại giới đi vào trong vô biên luật tắc của Pháp giới, cõi vô cùng của Niết Bàn, của cõi Trời. Tiếng gọi đó đánh thức dậy là nghe từ một tinh thần thiêng liêng của vị tiên tri –The call for an awakening is heard from many spiritual seers . Lời tiên tri này như một siêu tưởng của Nietzsche qua nhân vật Zarathustra thốt lên rằng: ‘Này người thân hữu, thức dậy và đừng cố ngủ, vì; đêm đã bủa vây và tràn ngập. Có thể bạn sẽ mất đi một ngày sáng… O friend, awake; and sleep no more! The night is over and gone, would you lose your day also… (trong Ecce Homo).
Phật có danh xưng từ hoàng tử Tất Đạt Đa (Gotama) ở nước Thiên Trúc (Ấn Độ) 563-483 (BC) . Ở sáu tuổi với một tinh thần bừng dậy, Ngài đã thức tỉnh trong cõi sáng vô tận. Một hào quang rực rở mà Người đã chiếu vào chúng ta những ngữ ngôn của trí tuệ khôn ngoan và một tình yêu lý tưởng; ngôn từ đó đã chuyển dịch vào trong một thời đã qua; là những gì giúp cho chúng ta bây giờ và sẽ giúp cho nhân loại trong những thời sắp tới. Dẫu là gì đi nữa, bởi; thời đó là điều không thể tưởng tượng ra được cho một tương lai, điều mà có thể mang lại cho con người ở thế hệ mai sau –Beceause whatever an unimaginable future may bring to man in ages unbord. Một tiếng nói lớn lao như sấm động của một tinh thần cao thượng sẽ đưa dẫn chúng sanh đến con đường sáng của giác ngộ và giải thoát. Lời Phật có một âm hưởng trong trí tuệ của Jesus như một nhấn mạnh tuyệt đối và cả quyết: ‘Thiên điạ sẽ tiêu vong, nhưng tiếng nói của ta sẽ không tiêu vong / Heaven and earth shall pass away, but my words shall not pass away’ (trong Khải Huyền). Trong trạng huống nguyện cầu và hiệp thông, người hiểu biết và nhận biết là Một của nhất thể (One). Ý thức tư kỷ tiêu tan. Thí dụ: Thi gia, họa gia ở một trạng thái bình thường của trí tuệ là lúc ngọn đèn đang phập phồng trong gió của cái lúc sẽ bùng lên, nhưng; cả hai nghệ sĩ đang trong một nhất thể tối thượng của tri giác nhận thức thời tất thấy được chân lý tối thượng phát ra từ trí tuệ và cái gì riêng mình không còn nữa trước ngọn đèn đang cháy hay tắt. Trong hiệp thông hiện hữu người ta tìm thấy ở phẩm kinh Upanishads một điều kiện cách, điều kiện ‘có hay không có ngoại giới và cũng chẳng phải nội giới ý thức, có hay không có một phần của ý thức hay không có vô thức’ –“neither outer nor inner consciousness, either semi-consciousness nor unconsciousness”. Nói như rứa thì điều kiện chi trong hai cái dạng thức đó? -Hỏi rứa là còn đứng trong vòng của cõi ta bà. Rứa thì răng? -Tự thức lấy hay tự động ý thức tới chứ bi chừ lý giải cái chi đây cho đả thông tư tưởng. Điều kiện Jesus tìm thấy; đó là: ‘bình an dưới thế cho người thiện tâm với lòng bát ái từ bi ‘peace and love underearth’. Phật tìm thấy trong cõi Niết Bàn một điều kiện: ‘trong cái đó có hay không có ý thức, không có hư vô và cũng không mộng huyễn trống không. Nó cũng chẳng đến, nó cũng chẳng đi, nó không đọng, nó không sa, cũng không bung’. Buddha found in Nirvana a condition: “wherein there is neither consciouness, nor space nor a void. It is not a coming, it is not a going, nor a standing till, nor a falling, nor a rising”. Rứa nên chi điều mà chúng ta nhận thấy; cuối cùng chỉ còn lại lộ trình (path) đi tới chỉ có Một. Một chân lý mà toàn thể chúng ta hướng tới. Dựa theo cổ Hy Lạp nhìn vào cái đẹp có hai ý nghĩ lớn. Plotinua (205-270 . Công Nguyên) (A.D.) diễn tả trong triết học của ông: ‘Làm cho linh hồn ta tốt đẹp và hình hài ta đẹp đẻ cái đó làm cho chính chúng ta đến gần với Thượng đế: bởi; Thượng đế là đẹp.(xấu xa là giống như tội lỗi; đối nghịch lại đẹp và tốt /ugliness is the same as evil; its contrary is beauty and good). Rứa cho nên chi Thượng đế tượng trưng cái trong sáng, vi diệu pháp không thể đem ra phân biệt.Trong Pháp của Phật đã chứa đựng một thâm ý ‘tất cả cuộc đời là thánh thiện / the whole of the holy life’. Là điều kiện để đi tới con đường thánh thiện tuyệt hảo / the path of perfection. Là chánh pháp không còn gì hơn cả.
Phẩm kinh Upanishads: là đường đi tới anh sáng. Phẩm Bhagavad Gita: là đường đi tới tình yêu. Phẩm Dhammapada: là đường đi vào đời. Phật vượt qua những vấn đề thuộc siêu hình. Phật là hiện thực cuộc đời và nhận biết để tri ngộ giữa hữu thể và vô thể. Phật phá chấp để đồng hóa với thế gian. Tất cả là tinh thần của Pháp giới tức là tinh thần vi diệu của Phật, là những gì còn lại trong việc tu tập. Phật muốn chúng ta chận cái bánh xe trở nên (luân hồi), như vậy chúng ta có thể an nghỉ ở giữa của hiện hữu với đầy đủ ý thức ngũ căn (nhân, nhỉ, tị, thiệt, thân), ngũ cảnh (sắc, thanh, hương, vị, xúc) và chân lý tứ đại diệu đế (khí, đất, nước, lửa) thường xuyên biến đổi: thành, trụ, hoại và không. Lý cái sự này ta mới thấy trong Pháp giới có những đặc tính rốt ráo của ‘sắc’ và ‘tướng’ cả hai thứ nầy là bào ảnh, như lộ thảo như đầu phô là ánh chớp làm hỏa mù đưa con người tới đau khổ. Thậm chí không (neither) cũng là không (nor); là không thực. Hết thảy mọi hiện tượng đều là Không / Sắc Không là hai mặt thực của bản thể thường hằng, bất biến, vô thủy vô chung tức không còn chi chỉ còn lại ‘chân-như-phật-pháp’. Trước cái chân lý tối thượng Phật; là những gì thoáng qua, phút chốc vì thế mà tất cả buồn chán, có đôi phần của mơ ảo của con người xuyên vào tuổi đời như một hoài niệm ước ao. Nhưng đối với Phật pháp là tỏ rõ cái gì cực kỳ trong sáng, vì; nó chỉ là một cuộc đời ngắn ngủi nó nẳm trong cái hư không, bào ảnh, phù phiếm không còn chi là một cuộc đời bất tận trường cửu cả. Rứa thì cuộc đời là cái chi chi? -Hỏi lạ chơ! Đã nói ‘nó’ là một phút chốc, tạm bợ, ngắn ngủi của cái gọi là vô tận cuộc đời mà chúng ta vui thú thỏa thê giữa đời đang sống một cách ngắn ngủi –But Buddha makes it very clear that it is only the transient life which is vanity,not the eternal life or those moments of eternal life, which we can enjoy in our transitory life. Thành thử hưởng thụ vì đời ngắn ngủi: ăn không ăn rồi cũng chết, giàu hay nghèo rồi cũng chết. Rứa thì để lại gì trong ta? Chả để lại gì cả mà để lại cái vô tận cuộc đời, để được trở về với con đường chánh pháp do mình làm nên; hãy chận cái bánh xe đó lại. Chi rứa? -để “lở một mai tôi chết trần truồng không cơm áo / thì hồn tôi xin phản phất chốn trăng sao” (Quách Thoại). Nhận ra được như hồn thi sĩ tức là thoát tục về với chân-không, nơi không còn âu sầu, đau khổ, không nợ, không nần.
Thứ đến trong cái chân lý tội thượng Phật, Ngài đã tạo nên một cái gì thiêng liêng mầu nhiệm ở nơi ngài và một tâm lý siêu thoát như hiến dâng đến những vấn đề của loài người: nguyên cớ đó mà con người hứng chịu dưới những gì ngắn ngủi ngay cả thoáng chốc mơ hồ dưới những gì đã đi qua; đấy là những gì Phật nhận ra được là những gì mang vào đời người, dù là ngắn ngủi và ước ao cho mọi khổ đau vượt qua; như vậy là quên đi những gì bất tận mãi mãi hiện diện trong Phật –thus forgetting the ever-present Eternity in him. Rồi từ đó con người mới thấu hiểu chân lý tuyệt đối và thâm hậu trong Phật-tính. Phật quán triệt chân-như ngọn nguồn của đau khổ và giải thoát là ước ao đưa tới một tha thiết tự do tâm hồn, nghĩa là không còn vướng đục mà ở đó có một tự do tâm hồn trong thanh cao diệu vợi của cái gọi “cho thanh cao mới được phần thanh cao” (Kiều). Đối đầu lớn lao nhất của Bhagavad Gita là trận chiến của cuộc đời (linh hồn) là cuộc chiến của đòi hỏi, ao ước, mong muốn những thứ đó khơi dậy từ dục-giới. Có đoạn ghi: ‘hãy trở nên chiến sĩ để giết kẻ tham dục, quyền năng của kẻ thù xâm lược linh hồn / Be a warrior and kill desiré, the powerfull enemy of the soul’. (trong Thánh John của Thập giá / St. John of the Cross). Nửa đường của Phật là giúp cho chúng ta hiểu tại sao phải ước ao bình an dưới thế. Đây là Nửa Đường Trần (Middle-Way) con đường nhỏ hẹp của chân lý tuyệt đối; nó chỉ là con đường đưa tới đỉnh núi tham vọng: ‘Bên trái là hành trình sai trái đưa tới tham vọng cho mọi thứ có trên đời. Bên phải là hành trình sai trái cho con đường hướng về trời’ (St. John). Rứa thì làm răng tìm thấy đỉnh núi của Thượng đế? -Con đường dẫn tới chúng ta chỉ tìm thấy một từ ‘nada’. Nada là chi rứa? -là không / nothingness. Ngữ ngôn rút từ Phạn (Sanskrit) của ‘sũ’.Và; nada đưa ta về với ‘án-ma-ni-bát-nhi-hồng’ là thần chú của tâm niệm chớ không phải thần chú để giải phóng đau khổ. Nhớ cho cái sự cố này. Cố chi? -Ui chao ơi! Nó đâu có đưa tới Niết Bàn mà thần chú để cứu khổ, cứu nạn (vì thần chú là ‘rống’ cho mình đạt nguyện vọng, đạt yêu cầu). Mà cần niệm: ‘nada nada a lị gia bà lô kiết đế… thướt bát ra gia bồ đề dạ bồ đà dạ…’ Và; trên ngọn núi tham vọng có khắc ghi như sau: ‘Và trên ngọn núi này không có chi cả / And on the mountain nothing / Y en el monte nada’. Con đường đó đưa tới trống không là con đường dẫn đến vô lượng. ‘Xa đi những gì Vọng tưởng và ở đó an nghỉ trong cõi tịnh / Go far into the Void and there rest in quitness’ (trong Đạo Đức Kinh của Lão Tử /Tao Te Ching by Lao Tzu). Tức diệt toàn thể của Vô-ngã (Anâtman) trong cõi Vô-thường (Anitya) để được trở về mà không cần chận đứng bánh xe lăn. Đây là điều kiện hợp thông tuyệt hảo, đó là qui chiếu cho một vài trạng huống của cái không. Linh mục A. Baker (1575-1641) giải thích về cái không: “không có chi và không có chi làm cái không chi / Nothing and nothing make nothing”. Hiểu được nó, đưa vào trong trí tuệ thì đó là những gì bí tỉ để nói lên tu chứng theo số học (arithmetic); một từ ngữ lập ngôn tầm thường (ciphers) nhưng gợi ý sâu sắc giữa không và có. ‘không! anh không còn, anh không còn yêu em nữa…’ (Nguyễn Ánh 9) hay ‘anh không chết đâu em...’ (Trần Thiện Thanh). Răng lọt cái đờn cò vô đây? -Có chi mô. Cái ‘không’ vô tình của nhạc từ là cái có của nhạc sĩ; cái đó chứng tỏ cái-không vô nghĩa của ý nghĩa nghi vấn của trống-không (emptiness) và có thể cho là đầy đủ. Nó chỉ nảy ra trong ý nghĩa của rỗng tuếch đã tìm thấy trong Dhammapada: ‘Con thuyền trống vắng của đời ta /Empty the boat of your life’ là thế đấy; thì lúc đó trí tuệ trở nên bình yên. Thí dụ: Ông sư bước vào căn nhà trống vắng, tự nhiên sư cảm thấy niềm hân hoan bí ẩn hiện ra trong đầu và nhận thấy nguồn sáng của chân lý đến giữa lúc này. Từ cái chỗ đó cho ta một nhận thức Pháp giới có đó mà đôi khi không có; đó là tinh thể của Phật Pháp Tăng là Đạo (Tao)vậy.
Tinh thần của Pháp giới là tinh thần của Phật –The spirit of the Dhammapada is the spirite of Buddha. Là những gì dành cho người tu học và cho những thức giả muốn biết về Phật. Tu và biết cái gì ở Phật? Phật muốn chúng ta chận đứng cái bánh xe của những gì sẽ trở nên, nếu chận được thời chúng ta ngơi nghỉ ở giữa chặn đường của hiện hữu; một ý thức đầy đủ của Tứ Diệu Đế là bốn chân lý thực tế và từ khởi điểm đó ta đặc chân đến con đường vĩ đại. Thông điệp này là thông điệp cuộc đời, cuộc đời của bây giờ và mai sau; ở phút giây thoáng chốc, có nghĩa rằng thoáng chốc đó chính là phút chốc từng giờ từng phút từng giây trong cuộc đời chúng ta đang sống là dẫn độ đến con đường chân lý tuyệt hảo. Như vậy vấn đề gì thuộc về siêu hình là dữ kiện tối thượng là từ ngữ sâu xa. Phật muốn cho chúng ta có một cảm thức cấp thiết trong một giải pháp thuộc về cái gì thiêng liêng nơi chúng ta và coi đó như một giải quyết vấn đề thuộc đạo đức luân lý ở chúng ta. Pháp giới là ngọn đuốc, soi sáng vào tâm trí chúng ta với một trí tuệ minh mẫn, một thể xác tráng kiện. Xác và hồn; theo Phạn ngữ bắt đầu với câu văn ‘Cittama eva hi Samsaran’ là nơi an trú của cuộc đời, nơi an trú của trí tuệ. Nghĩa khác là cuộc đời sẽ trường cửu và cái chết sẽ già nua: cái thời đã qua chết rồi, tan biến và chúng ta sống trong một tương lai không bao giờ chết. Như rứa; cuộc đời chúng ta trên mặt đất này là nơi an trú vĩnh cửu đó là cõi Niết Bàn; nếu chúng ta tìm thấy chân lý tuyệt hảo ở đó với đầy đủ tâm-như-nhiên. Bằng không nói chơi cho vui thôi.
Con đường chân lý tuyệt hảo là đang nhìn tới; một yêu cầu và một sự trở về. Những đợt sóng cuối cùng là của niềm tin thiêng liêng, là những gì mang lại cho chúng ta đến bờ giác gọi là ‘samadhi’ là hiệp thông cùng Thánh ý (Holy communion). Một hiệp thông cuối cùng của một giới hạn dứt điểm tới Vô-tận-số (thời gian); chặn cuối của một hành trình để nhận ra Pháp giới: ‘Người hành đạo đến nơi cuối của lộ trình’–It is the final communion of the finite with Infinite; the end of the journey mentioned in the Dhammapada: ‘The traveller has reached the end of the journey’. Rứa thì Samadhi là chi rứa? -là thuật ngữ Phật giáo Pali; nguồn gốc sinh ra ở chữ ‘DHÃ’ có nghĩa cầm giữ nơi chốn của mình. Một tiếp đầu ngữ Sam và Ã; một gợi ý cho một hợp nhất, một hiệp thông: Hiệp thông Thánh ý của Upanishads, hiệp thông với Trời của Thiên Chúa, hiệp thông với Niết Bàn của Phật. Samadhi còn có nghĩa khác: tư tưởng trong sáng, tu tập và tĩnh lự; chận đứng mọi vọng niệm để có một tâm-như bình an, tất cả tan biến, đốt cháy mọi tư kỷ, mọi sa ngã là ý thức được Niết Bàn và nguyện cầu cho được bình an /prayer of quitness. Từ ngữ Dhamma mang ý nghĩa là Chân lý Tuyệt đối là tối-thượng-phật. Bởi; lời Phật là lời đưa dẫn chúng sanh tới Niết Bàn, tức con đường sáng: của cuộc đời an nhiên, của tình yêu không thù ghét, của vị tha, những gì khổ đau không còn nữa. Phật xuất hiện giữa vũ trụ loài người, hiện ra một vũ trụ hiệp thông giữa cõi trời và cõi người không còn xa lạ, không còn trở ngại mà Vô-lượng-Phật. Phật muốn chúng sinh thức tỉnh và nhận thức, muốn chúng sinh nhận thấy và tìm thấy ý nghĩa của Tánh-Không ./.
(ca.ab.yyc. Cuối 8/2016).
SÁCH ĐỌC:’The Dhammapada’ by Juan Mascaró. Penguin Books Ltd.USA 1973. ‘Jala . Ud-Din-Rumi’ by Prof. R. A. Nichoson. The University Cambridge. UK. 1970. Re-print 1973, 1980, 1985, 1989, 2000.
ĐỌC THÊM: ‘Vi Diệu Pháp Kinh’/ ‘Vô Thức’ / ‘Không Có Thượng Đế’ của võcôngliêm. Hiện có trên một số báo mạng và giấy trong và ngoài nước hoặc email theo điạ chỉ đã ghi.
TRANH VẼ: ‘Tu Sĩ / The Monk. Khổ 12” X 16”. Trên giấy cứng. Acrylics+Acrylic-ink. Vcl# 3082016.