Phần 1: Cụ Hoàng Nho Lâm
Khoa thi Hương năm 1874 Đặng Văn Thuỵ mới 16 tuổi nỗi tiếng thần đồng đã đỗ đầu xứ Nghệ.
Kỳ thi Hội 1878 bài phạm huý Đặng bị trượt, thân phụ qua tam trường đỗ tú tài, sư bác Cao Xuân Dục qua được tứ trường đỗ Cử nhân được vua bổ làm việc ở bộ Hình.
Quan Cao mến tài giúp cho Đặng ăn học và sau đó gả cô con gái đầu Cao Thị Bích hiền hậu đảm đang nuôi chồng dùi mài kinh sử. Khoa sau 1882 Đặng đỗ Cử nhân được bổ làm Huấn đạo huyện Nông Cống, Thanh Hoá, sau thăng Giáo thụ phủ Diễn Châu.
Kỳ thi Đình 1904 ông đỗ Đình nguyên Hoàng giáp, được cử về triều bổ chức Tư nghiệp Quốc Tử Giám, 4 năm sau thăng chức Tế tửu.
Khoảng năm 1910 bà vì bận bịu con cái và quản lý gia đình, ruộng vườn ở quê, thương chồng không ai chăm sóc ở kinh đô vì ông không ‘năm thê bảy thiếp’ như các quan khác nên có ý tác hợp cô em Cao Thị Hoà cho ông, bà Hoà goá chồng từ 26 tuổi, rảnh rang lại có chữ nghĩa đang theo nghiệp thi phú. Ông giản đơn tỏ ý bướm ong nào ngờ bà Hoà là một tay tiết liệt liền làm bài thơ gởi ông:
Anh Tế nhà ta khéo ỡm ờ
Phong tình quen thói lại lơ mơ
Rượu ngon uống hết không chừa cặn
Mít ngọt quen mùi đánh cả xơ
Duyên chị trước đà xe chỉ thắm
Tình em nay muốn chắp dây tơ
Cho hay quân tử là thế thế
Chị cũng ưa mà em cũng ưa
Chẳng là ông đang đương chức Tế tửu nên nhiều người gọi ông là quan Tế, ông hổ thẹn mà thuỷ chung như nhất.
Năm 1914 chán nản vì thời cuộc ông xin cáo quan về quê vui thú điền viên, được chuẩn y ông vui mừng quá liền viết bài thơ Biệt đình quan gởi người bạn tri kỷ là danh sĩ Huỳnh Thúc Kháng:
Quốc ân vị mẫu văn chương báo
Gia kế nan ngôn bổng hướng tân
Tự tiếu quy lai vô sự thậm
Vị vong thả tác bất vong nhân
(Ân nước không lấy văn chương báo đáp được
Nghèo khó bổng lộc đâu để mà đãi khách
Nay về nhà tự cười rằng rồi sẽ chẳng có việc làm
Nhưng ai không quên ta khi đang làm việc, ta cũng không quên người)
Về trí sĩ tại quê nhà, Tổng đốc Nghệ An Tôn Thất Đàn – một ông quan mang tiếng gian ngoa ghé thăm, cụ liền viết mấy câu và đọc tặng khách:
Vênh váo vểnh lên chòm râu bạc
Phung phây ngó xuống cái bụng phề
Bẻm mép đã quen mồm lắc lé
Chớ nhòm khoai lúa có người đe
Khiến quan Tôn bỉ mặt vội vã cáo từ.
Cụ sống giản dị, tự tay chăm sóc vườn tược, ruộng đồng lại ăn uống đạm bạc, thường ăn khoai nhưng không cho lên đĩa rườm rà, cứ để trong rỗ mà ăn lại ăn cả vỏ. Cụ ân cần quý trọng mọi người nhất là những tá điền, cụ bảo cụ bà: “Tá điền phải đổ mồ hôi, sôi nước mắt mới có được hạt lúa. Nay rẽ tô, muốn rẽ ít thì đó cũng là lẽ tự nhiên. Kẻ đáng trách là người đi coi rẽ. Họ mới là ong nuôi tay áo đấy bà ạ.”
Ra công ‘tề gia’ cụ thường đến thăm từng vị quan vốn là con cháu trong nhà, góp ý khuyên bảo họ phải giữ gìn gia phong, quốc pháp khiến người người ngưỡng mộ, học tập.
Gia phả họ Cao Xuân ở Thịnh Mỹ ghi về ông con rể Đặng Văn Thụy rằng: “Lúc nhỏ được coi là thần đồng, về già được coi là thần sống”.
11/2018