Ủng hộ VCV
Số tác phẩm
30.459 tác phẩm
2.720 tác giả
1.691
141.662.232
 
Một dòng hào kiệt
Đỗ Nhựt Thư

 

 

Phần 1:  Cụ Hoàng Nho Lâm

 

 

      Khoa thi Hương năm 1874 Đặng Văn Thuỵ mới 16 tuổi nỗi tiếng thần đồng đã đỗ đầu xứ Nghệ.

    Kỳ thi Hội 1878 bài phạm huý Đặng bị trượt, thân phụ  qua tam trường đỗ tú tài, sư bác Cao Xuân Dục qua được tứ trường đỗ Cử nhân được vua bổ làm việc ở bộ Hình.

    Quan Cao mến tài giúp cho Đặng ăn học và sau đó gả cô con gái đầu Cao Thị Bích hiền hậu đảm đang nuôi chồng dùi mài kinh sử. Khoa sau 1882 Đặng đỗ Cử nhân được bổ làm Huấn đạo huyện Nông Cống, Thanh Hoá, sau thăng Giáo thụ phủ Diễn Châu.

    Kỳ thi Đình 1904 ông đỗ Đình nguyên Hoàng giáp, được cử về triều bổ chức Tư nghiệp Quốc Tử Giám, 4 năm sau thăng chức Tế tửu.

    Khoảng năm 1910 bà vì bận bịu con cái và quản lý gia đình, ruộng vườn ở quê, thương chồng không ai chăm sóc ở kinh đô vì ông không ‘năm thê bảy thiếp’ như các quan khác nên có ý tác hợp cô em Cao Thị Hoà cho ông, bà Hoà goá chồng từ 26 tuổi, rảnh rang lại có chữ nghĩa đang theo nghiệp thi phú. Ông giản đơn tỏ ý bướm ong nào ngờ bà Hoà là một tay tiết liệt liền làm bài thơ gởi ông:

Anh Tế nhà ta khéo ỡm ờ

Phong tình quen thói lại lơ mơ

Rượu ngon uống hết không chừa cặn

Mít ngọt quen mùi đánh cả xơ

Duyên chị trước đà xe chỉ thắm

  Tình em nay muốn chắp dây tơ

  Cho hay quân tử là thế thế

  Chị cũng ưa mà em cũng ưa

     Chẳng là ông đang đương chức Tế tửu nên nhiều người gọi ông là quan Tế, ông hổ thẹn mà thuỷ chung như nhất.

     Năm 1914 chán nản vì thời cuộc ông xin cáo quan về quê vui thú điền viên, được chuẩn y ông vui mừng quá liền viết bài thơ Biệt đình quan gởi người bạn tri kỷ là danh sĩ Huỳnh Thúc Kháng:      

Quốc ân vị mẫu văn chương báo

  Gia kế nan ngôn bổng hướng tân

Tự tiếu quy lai vô sự thậm

Vị vong thả tác bất vong nhân

(Ân nước không lấy văn chương báo đáp được

  Nghèo khó bổng lộc đâu để mà đãi khách

Nay về nhà tự cười rằng rồi sẽ chẳng có việc làm

  Nhưng ai không quên ta khi đang làm việc, ta cũng không quên người)

     Về trí sĩ tại quê nhà, Tổng đốc Nghệ An Tôn Thất Đàn – một ông quan mang tiếng gian ngoa ghé thăm, cụ liền viết mấy câu và đọc tặng khách:

Vênh váo vểnh lên chòm râu bạc

  Phung phây ngó xuống cái bụng phề

  Bẻm mép đã quen mồm lắc lé

  Chớ nhòm khoai lúa có người đe

    Khiến quan Tôn bỉ mặt vội vã cáo từ.

      Cụ sống giản dị, tự tay chăm sóc vườn tược, ruộng đồng lại ăn uống đạm bạc, thường ăn khoai nhưng không cho lên đĩa rườm rà, cứ để trong rỗ mà ăn lại ăn cả vỏ. Cụ ân cần quý trọng mọi người nhất là những tá điền, cụ bảo cụ bà: “Tá điền phải đổ mồ hôi, sôi nước mắt mới có được hạt lúa. Nay rẽ tô, muốn rẽ ít thì đó cũng là lẽ tự nhiên. Kẻ đáng trách là người đi coi rẽ. Họ mới là ong nuôi tay áo đấy bà ạ.”  

    Ra công ‘tề gia’ cụ thường đến thăm từng vị quan vốn là con cháu trong nhà, góp ý khuyên bảo họ phải giữ gìn gia phong, quốc pháp khiến người người ngưỡng mộ, học tập.

 

      Gia phả họ Cao Xuân ở Thịnh Mỹ ghi về ông con rể Đặng Văn Thụy rằng: “Lúc nhỏ được coi là thần đồng, về già được coi là thần sống”.

                                                                                                                11/2018

 

 

 

Đỗ Nhựt Thư
Số lần đọc: 203
Ngày đăng: 09.05.2026
[ Trở lại ] [ Tiếp ]
In tác phẩm Góp ý Gửi cho bạn
Cùng thể loại
Chàng lãng tử và nhà thơ thiền. - Trương Văn Dân
Pháp giới. The Dhammapada - Võ Công Liêm
Hệ lụy về việc kiêng húy dưới thời Vua Thiệu Trị. - Hồ Bạch Thảo
Phương pháp giải quyết vấn đề và Tứ Diệu Đế (phần 2) - Nguyễn Cung Thông
Cúng đình, cúng miếu tháng Hai Ta… - Phạm Nga
Đọc bài ca thế kỷ 21-tiếng thơ, tiếng lòng từ một trái tim nhạy cảm - Đoàn Khắc Xuyên
Freud và hình ảnh của con người - Võ Công Liêm
Con người và trí tuệ - Võ Công Liêm
Bài ca thế kỷ 21 “Cảm nghĩ về chiến tranh” - Trương Văn Dân
“Bài ca thế kỷ 21” cũng là tiếng lòng dân chung khát nguyện hòa bình - Võ Quê