Ủng hộ VCV
Số tác phẩm
30.459 tác phẩm
2.720 tác giả
1.418
141.703.829
 
Ba hình thái nhân quả qua cách nhìn của Phật giáo
Lê Huỳnh Lâm

 

Nhân quả như một định luật xuất hiện trong cuộc sống, mỗi chúng sinh, mỗi hiện tượng hay mỗi pháp giới đều phải chịu sự chi phối của nhân quả.

Trong khuôn khổ bài này, chúng ta chỉ bàn đến tác động của nhân quả với con người như một đối tượng biết hướng thiện, biết ăn năn, hối cải…

1. Nhân quả sinh học

Mỗi con người khi xuất hiện ở trần gian này đã thừa hưởng được từ cha và mẹ những hạt giống sinh học di truyền để tạo ra chúng ta. Xa hơn nữa là ông bà nội, ông bà ngoại,… và nói chung là tổ tiên dòng tộc. Không một ai trong chúng ta thoát khỏi quy luật nhân quả sinh học. Vì vậy, sự chịu ơn và lòng biết ơn đấng sinh thành đã trở thành bản năng của mỗi chúng ta, sau này được gọi là lòng hiếu thảo.

Nhân quả sinh học là một ngầm định khách quan, không ai có quyền chọn cho mình gia đình dòng tộc để ra đời. Ngoại trừ một số trường hợp đặc biệt, tôi sẽ nói ở phần nhân quả tâm thức.

2. Nhân quả vật lý

Không phải ngẫu nhiên mỗi cá nhân lại ra đời trong một gia đình, trong một vùng đất, trong một đất nước. Điều này cần một tư duy siêu nghiệm, siêu hình để giải thích, chúng ta sẽ nói ở phần nhân quả tâm thức. Còn phần này, xem như chấp nhận mỗi cá nhân xuất hiện ở một không gian, thời gian cụ thể.

Ví dụ: một người ra đời ở thế kỷ 15 thì sẽ thừa hưởng trọn vẹn khí hậu thời tiết và thiết chế xã hội ở thời kỳ đó, tại vùng đất đó. Còn người xuất hiện ở thế kỷ 21 thì sẽ hưởng không khí thời tiết của thế kỷ 21 và thiết chế xã hội của quốc gia mà người đó xuất hiện…

Thì dù muốn hay không, con người ở trong hệ tọa độ đó phải được hay bị tác động bởi yếu tố khách quan là thời tiết và khí hậu, nền văn minh và thiết chế xã hội thuộc không thời gian đó ảnh hưởng.

Điều này, tôi gọi là nhân qua vật lý.

Vấn đề nhân quả vật lý có thể được thay đổi tùy vào sự nỗ lực của những cá nhân, gia đình và điều kiện xã hội để họ có thể di chuyển đến không gian theo họ là thích hợp hơn cho cuộc sống của chính họ.

3. Nhân quả tâm thức

Vấn đề này là trọng tâm của bài viết. Ở thời đại nối kết toàn cầu qua các ứng dụng mạng xã hội trên nền tảng mạng toàn cầu (internet), thì dù đồng ý hay là không, mọi người đều có nghe nói đến thuyết luân hồi của Phật giáo.

Thật ra, sự vận hành của thái dương hệ chúng ta đang sống trên trái đất đã có sự luân hồi. Vì thế, mới có ngày đêm luân phiên, có bốn mùa xuân hạ thu đông chuyển đổi theo quy luật,… đó là sự vận hành lập lại của tự nhiên. Vạn vật trên trái đất cũng chịu sự tác động của quy luật chuyển động từ thiên nhiên và biến chuyển theo từng chu kỳ: sinh thành hoại diệt. Con người chúng ta cũng không tránh khỏi quy luật đó. Vì thế, mới xuất hiện những giấc mộng trường tồn, những bài thuốc trường sinh bất tử, các giáo phái luyện đan nhằm kéo dài tuổi thọ,… nhưng cho dù sống ngoài 100 tuổi, con người vẫn phải theo quy luật nghiệt ngã sinh tử. Đó là bàn về thân xác.

Chúng ta đều biết rằng, mỗi con người có sáu giác quan (căn): mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý. Sáu căn này sẽ tương ứng với sáu đối tượng bên ngoài (trần): sắc, thinh, hương, vị, xúc, giác. Khi mỗi căn tiếp xúc với mỗi trần thì phát sinh một cảm thọ là sự nhận thức, vì vậy tương ưng với sáu căn và sáu trần sẽ xuất hiện sáu thức: nhãn thức, nhỉ thức, tỉ thức, thiệt thức, thân thức, ý thức.

Theo Phật giáo, trong thân xác mỗi người còn có sự nhận thức, chính là cảm thọ. Cho dù các giác quan khép lại không còn tiếp xúc các trần nhưng sự nhận thức vẫn hiện hữu. Ví dụ: trong giấc ngủ chúng ta mơ, dù mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý không tiếp xúc sáu trần (sắc, thinh, hương, vị, xúc, giác) nhưng chúng ta vẫn cảm thọ mọi thứ như lúc đang tỉnh. Và khi tỉnh giấc ngủ, có thể chúng ta nhớ rõ mọi thứ trong giấc mơ. Để bàn sâu vấn đề giấc mơ, chúng ta phải nhờ đến Mạt na thức và A lại gia thức trong Duy thức học của Phật giáo. Hay Tâm phân học của Freud.

Trong khuôn khổ bài này, chỉ nói đến vấn đề nhân quả tâm thức. Trở lại vấn đề chính, khi một người có một hành động sai trái vi phạm luật pháp, cho dù họ chưa bị phát hiện, nhưng tâm lý của họ đã phải chịu một kết quả lo âu, sợ hãi,…

Vấn đề nhân quả tâm thức trong thăm thẳm của mỗi người, tự người đó sẽ thấy biết. Ở đây, chỉ bàn về kết quả khi hạt giống được gieo trong vườn tâm của mỗi người.

Ví dụ: có ba người đang đi trên con đường, trong ba người đó: người thì nghiện rượu, người mê cờ bạc, người ưa khoái lạc. Trên con đường đó có nhiều cơ sở cung cấp dịch vụ tương ứng. Thì chắc chắn người nghiện rượu sẽ vào quán rượu, người mê cờ bạc sẽ vào casino, người thích khoái lạc sẽ vào chốn lầu xanh… giả sử trên con đường đó không có các dịch vụ tương ứng thì cả ba người sẽ không tạo thêm nghiệp, vì chưa hội đủ duyên để hạt giống nảy nở. Cũng như vậy, nếu một vị tu sĩ đang tu học nếu gặp phải môi trường không đáp ứng thì hạt giống tu sĩ vẫn ở trạng thái chờ và vị đó được gọi là chưa đủ duyên. Hay có những trường hợp hạt giống quá mạnh cho dù điều kiện môi trường không thuận lợi, nhưng mầm hạt giống vẫn bung chồi và phát triển. Nói về duyên thông thường mọi người chỉ nhắc đến thuận duyên, nhưng thực tế vẫn có những trường hợp nghịch duyên vẫn đưa đẩy nạn nhân đến môi trường thích hợp để hạt giống phát triển. Ví dụ: có những người vì phạm tội phải vào cửa Phật lánh nạn, hay có người thất tình, người trốn nợ đời, trốn quân dịch, người quá buồn đau, chán chường,… nhưng hầu như đó chỉ là số ít. Hầu hết những người đến với cửa Phật, thì họ như đã được gieo trồng hạt giống bồ đề từ nhiều kiếp.

Nhân vừa qua có vị Hoàng tôn nước Bhutan là Vairochana Rinpoche được mời sang Việt Nam để nói pháp Phật. Dù vị đó chỉ 12 tuổi, nhưng lời nói và trí tuệ về Phật pháp rất phi thường. Để giải thích điều này, chỉ có cách là nhân quả tâm thức. Vị đó đã gieo trồng nhiều kiếp trong tâm thức mình về Phật pháp, nên cho dù chỉ mới 12 tuổi đã có khả năng diễn thuyết như những vị đại sư Phật giáo.

Theo Phật giáo, khi thân xác trả về tứ đại đất nước gió lửa, thì chỉ còn thức như một nghiệp lực. Nghiệp lực ở đây chính là dục vọng của con người đó sẽ luân hồi để nhận quả. Khi đang ở cõi trần, một người mê hơn thua cờ bạc, thì tập khí đó sẽ hình thành mạnh nhất trong tâm thức người đó, cho dù hết môi trường để thể hiện nhưng niềm mê đắm đó vẫn duy trì ở trạng thái chờ. Với người nghiện tửu sắc cũng vậy, cũng như với những người tâm đố kỵ ganh ghét, thù hằn,… gọi chung là tham sân si sẽ thường trực trong tâm thức người đó để đợi đủ duyên trổ quả. Ngược lại, với những người hướng thiện, sống tốt, giàu lòng nhân ái,… sẽ có nhiều cơ hội để hưởng quả lành tương ứng.

Một điều cần chú ý là theo thực tế ở Ấn Độ cổ xưa thì đa số những vị tu sĩ Phật giáo thành tựu giác ngộ đều xuất thân từ những gia đình dòng tộc có uy quyền, đẩy đủ vật chất,… để giải thích điều này, ngoài nhân quả tâm thức, chúng ta có thể hiểu thêm, các vị đó xuất hiện nơi chốn quyền uy và phú quý là với mục đích gây ảnh hưởng được đến nhiều người, nhiều tầng lớp và khỏi bận tâm việc cơm áo hàng ngày, chỉ lo tiếp tục con đường tu học và phụng sự để mang lại thanh bình cho cõi giới này. Đó là trường hợp của các vị Bồ tát, những vị A la hán, những vị Nhất lai (chỉ trở lại một lần), những vị này họ chủ động chọn gia đình, dòng tộc, đất nước để xuất hiện và tiếp tục con đường tu học, truyền bá, phụng sự Phật pháp nhằm đem lại hòa bình, tự do, thoát khổ cho thế giới này.

Ở trần gian này, hầu hết các triết thuyết đều được xây dựng từ cái có hoặc từ cái không. Dù cả hai nền tảng hữu, vô đều đem lại chiến tranh và gây khổ đau cho loài người. Nhưng xét về mặt ít hại hơn thì nền tảng từ cái có (độc thần giáo) đỡ hơn nền tảng từ cái không (hư vô chủ nghĩa).

Nhưng với Phật giáo, ngài Thích Ca đã nhận ra hai cực đoan: có (thường kiến) – không (đoạn kiến) của nhị nguyên luận là nguyên nhân gây đau khổ cho nhân loại. Và đức Phật đã nhìn thấy sự duyên sanh nơi mọi pháp giới, có chung một bầu không khí, có chung một hư không, có chung một duyên sanh để cùng được làm người... và cái chuyên chở mọi sự vật hiện tượng nơi mỗi con người đó chính là tánh không vốn bình đẳng có nơi mỗi con người, nơi muôn loài… Và mỗi loài tùy căn nghiệp để có thế giới của riêng mình, như hư không mà chúng ta đang hưởng, thì loài ở dưới nước có hư không là đại dương là sông ngòi, loài dưới lòng đất có hư không là lòng đất, loài vi sinh trong người chúng ta có hư không là thành ruột,…

Vì tất cả đều do duyên sanh, nên chúng ta có trong nhau, khi ta thương yêu giúp đỡ cho tha nhân chính là thương yêu chính mình, bởi vậy tục ngữ Việt Nam có câu: Thương người như thể thương thân!

Xin nguyện mong mọi người Việt Nam và mọi người trên trái đất cư xử với nhau bằng tâm từ bi! Thương người như thể thương thân!

 

Huế, 5/2026

     

Lê Huỳnh Lâm
Số lần đọc: 401
Ngày đăng: 14.05.2026
[ Trở lại ] [ Tiếp ]
In tác phẩm Góp ý Gửi cho bạn
Cùng thể loại
Tím cả hồn thơ - Tiểu Lục Thần Phong
Khoảng lặng giữa đêm Xuân - Nguyễn Lê Hồng Hưng
Hà xứ Thị? - Lãng Thanh
Khi Trí tuệ nhân tạo đọc lại một truyện ngắn viết trong thời chiến. - Phan Tấn Uẩn
Tháng Tư: Bản hòa ca của màu sắc nhân văn - Nguyễn Lê Hồng Hưng
Chuyện một tấm lòng - Nguyễn Lê Hồng Hưng
Xuân về, nghe nỗi nhớ trở mình - Nguyễn Lê Hồng Hưng
Đuổi theo ánh sáng - Tiểu Lục Thần Phong
Buông hay rồi bị bỏ - Lãng Thanh
Bến đậu bình yên - Nguyễn Lê Hồng Hưng
Cùng một tác giả
Đêm (thơ)
Chết (thơ)
Huế (thơ)
Đông ngàn (tạp văn)
Thu Xưa (tạp văn)
Tùy bút cho H. (tạp văn)
Online (thơ)
Mẹ Tâm Tinh (tạp văn)