Ủng hộ VCV
Số tác phẩm
30.459 tác phẩm
2.720 tác giả
1.423
141.704.809
 
Ăn chay và tư tưởng Phật Giáo Đại Thừa
Lê Huỳnh Lâm

 

 

Việc ăn chay xuất hiện trong sự vận hành của vạn pháp. Từ thời Đức Phật Thích Ca còn tại thế Phật giáo chỉ hạn chế ăn thịt động vật qua ba hiện tượng (tam tịnh nhục) không thấy: không tự mắt mình thấy con vật bị giết mổ; không nghe: không tự tai mình nghe tiếng kêu la thảm thiết của con vật bị giết mổ; không nghi: không mảy may có sự nghi ngờ nào về việc người ta giết con vật dành cho mình ăn. Điều này đòi hỏi sự tự giác cao của quý vị tu sĩ, bởi chỉ vị tu sĩ đó mới biết mình có nghe, có thấy hay có nghi đến con vật bị giết hại hay không! Ngoài ra, có những loài thịt mà quý vị tu sĩ không được thọ thực gồm: thịt người, voi, hổ, sư tử, linh cẩu, ngựa, chó, báo, gấu, rắn.

 

Hơn nữa, vào thời Đức Phật tại thế, đời sống xã hội còn lạc hậu so với hiện nay, những tu sĩ chỉ thọ vật qua việc đi khất thực, đó là nguồn lương thực chính để nuôi thân phàm đã dâng trọn cho việc tu tập, vì vậy việc ăn chay chưa được Đức Phật nói đến vào thời đó. Thời Đức Phật còn tại thế, bản năng, tập khí con người hay tập quán của mỗi vùng đất được biểu hiện rất tự nhiên, nếu thời sơ khai của Phật giáo ngăn cản ngay những nghi lễ, hủ tục, văn hóa được cho là bất thiện theo quan niệm của đạo Phật, tất nhiên những hủ tục đó là thuộc Ấn Độ giáo thời bấy giờ, thì hóa ra Phật giáo can dự vào văn hóa bản địa đã cắm rễ sâu từ nhiều đời kiếp… trong khi với Phật giáo luôn đồng hành cùng văn hóa bản địa để truyền bá Phật pháp, vì nhận thức của Phật giáo là vạn pháp do tâm tạo.

 

Vì thế, với ba yêu cầu không nghe, không thấy, không nghi với một tu sĩ về con vật mà mình sẽ ăn đã là một bước tiến lớn trong xã hội đương thời. Điều này còn khiến các tu sĩ ít bị tác động hơn trong quá trình tu học.

Nhưng về mặt vận động thì bất kỳ hình thái tôn giáo, văn hóa, xã hội nào cũng không thể đứng ngoài quy luật để xã hội ngày một văn minh hơn, các tập tục văn hóa dã man đã dần được chuyển đổi phù hợp, kể cả các hình thức nghi lễ, nghi thức an táng, lễ hội,… cũng đã chuyển biến theo từng giai đoạn của xã hội. Trong tiến trình đó tôn giáo cũng không ngoại lệ, không thể nằm ngoài quy luật vận động tiến bộ chung của nhân loại.

Xin được trở lại vấn đề ăn chay, mà Cố đô Huế đã từng là trung tâm Phật giáo của cả nước, nên việc ăn chay đối với người Huế rất phổ biến và trở thành truyền thống văn hóa của các Phật tử. Còn nhớ mệ ngoại tôi lúc sinh thời đã ăn chay, thức ăn vô cùng giản dị, rau muống luộc chấm tương, nước rau luộc vắt chanh dùng làm canh, muối mè, chao, các loại rau quả… Hầu như rất ít dùng gia vị cầu kỳ như hiện nay, ngoài muối, chanh, dầu phụng…

Bây giờ đời sống quá đủ về vật chất. Thức ăn cho người ăn chay rất phong phú. Việc ăn chay không chỉ giới hạn trong các tu sĩ Phật giáo, mà đi vào đời sống nhiều thành phần, từ: công chức, bác sĩ, giáo viên và cả người lao động phổ thông… Ăn chay cũng không còn trong những quốc gia theo Phật giáo mà còn phát triển ở các nước Âu, Mỹ… điều đó cho thấy cái gì hay, tốt cho xã hội sẽ lan tỏa và phát triển rất tự nhiên. Tuy nhiên, ăn chay theo đạo Phật không như cách ăn chay của những tôn giáo khác và những cộng đồng ở các quốc gia khác. Với đạo Phật, ăn chay là do tình thương yêu muôn loài, ăn chay nhằm phát triển tâm từ bi.

Trong xu thế vận động của xã hội, Phật giáo cũng chuyển động, vận động để phù hợp với tiến trình phát triển tiến bộ văn minh của loài người. Trong cuốn “The Tao of physics” của Fritjof Capra do Nguyễn Tường Bách dịch (có một bản dịch trước đó của Nguyễn Phương) có đoạn nói về sự phát triển song hành tương ứng giữa tâm (cita) và vật lý hiện đại. Cũng chính Đức Phật trước khi chuẩn bị nhập niết bàn đã thuyết kinh Đại bát Niết bàn, trong đó có đoạn nói về thường, lạc, ngã, tịnh… rất khác với vô thường, khổ, vô ngã, bất tịnh của thời kỳ đầu khi đức Phật thuyết pháp. Để giải thích điều này, chúng ta phải chấp nhận tiến trình vận hành và phát triển của sự vật, mà có sự vật nào ngoài tâm. Tức là do tâm điều động tất cả, vạn pháp do tâm tạo mà. Và vì thế, tâm thức vốn đã vận động và biến chuyển để từ Phật giáo thời sơ khai (Phật giáo nguyên thủy, Nam truyền) đến Phật giáo Bắc truyền, tức là Phật giáo đại thừa sau này.

Trong Phật pháp thường có một phân biệt tục đế và chân đế. Khi tục đế là các sự thật được nhận ra bởi Đức Phật Thích Ca gồm: Vô Thường, Khổ, Vô Ngã, Bất Tịnh thuộc thế gian pháp, Đức Phật đã giảng cho đại chúng về các sự thật hiện hữu và đã đi vào cuộc sống của mọi người, để từ đó nhận diện bản chất của thế gian pháp, tục đế. Nhưng khi chuẩn bị nhập Niết Bàn, Đức Phật đã thuyết về Thường, Lạc, Ngã, Tịnh để nhắn gửi đến đại chúng về một sự thật của chân đế, xuất thế gian pháp. Và vì Thường, Lạc, Ngã, Tịnh thuộc chân đế, xuất thế gian nên nó không phải đối lập với các pháp thuộc tục đế, thế gian pháp là Vô Thường, Khổ, Vô Ngã, Bất Tịnh. Nên chúng ta không thể so sánh ở bề mặt ngôn ngữ với ý thức phân biệt được của hai vấn đề ở hai hệ quy chiếu khác biệt là tục đế và chân đế.

Một quan sát về vật lý học, vào thời Isaac Newton (năm 1867), ông ta đã phát hiện ra lực vạn vật hấp dẫn, vì tâm thế gian lúc đó chỉ tưởng tượng đến như vậy. Sau hơn 200 năm, vào thời Albert Einstein, khi tâm thức nhân loại đã vượt xa hơn nhiều, vượt ra ngoài bầu khí quyển trái đất nên Einstein xuất hiện như một đại diện cho nhu cầu tâm thức cộng đồng để khám phá ra thuyết tương đối hẹp (năm 1905) và rộng (1907-1915),…

Theo quan niệm Phật giáo, thì Phật học chính là tâm học. Hiện tượng học (Vật Lý học) là sản phẩm của tâm thức, vạn pháp đều do tâm tạo.

Trở lại vấn đề ăn chay và tư tưởng Đại thừa của Phật giáo. Khi một người ăn chay thì sẽ tác động đến các thành viên gia đình, một gia đình ăn chay thì ảnh hưởng đến hàng xóm, một khu phố ăn chay ảnh hưởng và tác động đến thành phố và một thành phố ăn chay ảnh hưởng đến quốc gia và quốc gia ăn chay ảnh hưởng đến các nước láng giềng và toàn cầu,… cứ một người ăn chay thì lò mổ sẽ giảm đi một hành động sát sanh, cứ thế chúng ta nhân lên để thấy rằng tâm sát sanh sẽ giảm nhiều khi có nhiều người ăn chay, bất kể hình thức ăn chay nào.

Theo thông tin của mạng toàn cầu thì đất nước Bhutan người dân có cuộc sống hạnh phúc nhất. Được biết, hầu như người dân đất nước đó rất ít ăn thịt động vật, hoặc khi cần ăn họ chỉ nhập khẩu thịt động vật từ nơi khác chứ không tự giết mổ, ngay cả vị vua và hoàng hậu Bhutan cũng đều ăn chay trường với đại nguyện bảo vệ môi trường tự nhiên và truyền gửi thông điệp về lòng từ bi theo giáo lý của Đức Phật đến với thế giới. Lành thay! Lành thay!

Riêng với xứ Huế thơ mộng, vùng đất có hơn cả trăm ngôi chùa, tịnh xá, niệm Phật đường,… vì vậy người dân Huế đa phần là Phật tử, họ tự nguyện ăn chay ít nhất mỗi tháng 2 ngày: 15 (rằm) và 1 (mồng một) âm lịch, có nhiều người ăn chay mỗi tháng 4 ngày, mỗi tháng 10 ngày và khi vào hạ thì ăn chay 3 tháng từ rằm tháng tư âm lịch đến rằm tháng bảy âm lịch,… Đặc biệt, vào các ngày rằm và mồng một âm lịch thì đa phần các hàng quán ở Huế tự động chuyển đổi sang bán thức ăn chay: bún chay, mì chay, cơm chay,… vào những ngày này, thì các lò mổ sẽ giảm hẳn hoặc ngưng giết mổ, tức là hôm đó giảm rất nhiều hoặc không có hành động sát sanh ở các lò mổ, và tâm sát có thể sẽ không xuất hiện ở những người làm nghề giết mổ.

Vậy thì, với đạo Phật ăn chay không chỉ giữ thân tâm thanh tịnh mà còn tác động và ảnh hưởng đến môi trường và cộng đồng, cân bằng hệ sinh thái, và ảnh hưởng đến dây chuyền vận hành các hoạt động của xã hội để giảm bớt tâm sát sanh nơi mỗi người, lan tỏa và ảnh hưởng đến cả cộng đồng. Tâm sát nơi mỗi con người là một trong những nguyên nhân dẫn đến tội phạm sát nhân, gây ra chiến tranh...

Khi tất cả chúng ta ăn chay với lòng từ bi thì thế giới này sẽ hy vọng có ngày thanh bình. Vì thế, có thể nói: ăn chay là một pháp môn của Phật giáo Đại thừa để khơi dậy tâm từ bi nơi mỗi người, không phân biệt tôn giáo, dân tộc, màu da, đất nước... Dù chỉ một người, một nhóm người, một cộng đồng hay một thành phố, một quốc gia nếu chúng ta ý thức được Phật tánh có nơi vạn vật và thực hành ăn chay với tâm thương yêu đồng loại, thương yêu vạn vật thì thế giới này sẽ đến ngày chấm dứt xung đột, chấm dứt chiến tranh và bình an sẽ nở hoa trong mỗi người.

Việc ăn chay như vậy, khác nào một pháp môn của Phật giáo Đại thừa tác động thiện đến tất cả mọi người!

 

 

 

 

Lê Huỳnh Lâm
Số lần đọc: 196
Ngày đăng: 20.07.2026
[ Trở lại ] [ Tiếp ]
In tác phẩm Góp ý Gửi cho bạn
Cùng thể loại
Từ “Những biển hàng” của Thạch Lam đến sự thượng tôn Tiếng Việt trong Luật quảng cáo - Hoàng Xuân Hoạ
Bùi Giáng: một hồn thơ tinh đọng ngôi lời dạ thưa - Lê Huỳnh Lâm
Về “chuyện ngủ” của Đặng Xuân Xuyến - Phương Việt Kháng
Tinh thần phá chấp trong thi ca Bùi Giáng - Lê Huỳnh Lâm
Nghe mùa thay lá và cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân - Trần Hoài Anh
Phải chăng cái chết trở thành một cuộc viễn du tâm linh (Về trích đoạn trong tiểu thuyết Bàn tay nhỏ dưới mưa ) - Trần Như Luận
Cuộc đời và thời gian - Võ Công Liêm
A Di Đà Phật hay A Mi Đà Phật? - Nguyễn Cung Thông
Một dòng hào kiệt (Phần 2: Như là Thượng Thư) - Đỗ Nhựt Thư
Bùi Giáng - Kẻ nhảy múa giữa rừng rú siêu hình - Lê Huỳnh Lâm
Cùng một tác giả
Đêm (thơ)
Chết (thơ)
Huế (thơ)
Đông ngàn (tạp văn)
Thu Xưa (tạp văn)
Tùy bút cho H. (tạp văn)
Online (thơ)
Mẹ Tâm Tinh (tạp văn)