Ảnh tượng chân dung Bùi Giáng do Nhà điêu khắc Lê Công Dũng (1964-2024) thực hiện.
Ngôn ngữ gồm lời nói và chữ viết. Chữ viết kí hiệu cho lời nói, lời nói biểu đạt âm thanh mà bản chất âm thanh là do dao động va chạm, là sóng, tức là sự uyên nguyên, là “nhân chi sơ tánh bổn thiện”. Trừ những kẻ muốn vấy đục thơ, biến thơ thành cái ác, một công cụ sát nhân,… khi đó thơ không còn là thơ, chỉ là khẩu hiệu hay có thể thơ đã chết trong tâm hồn những kẻ đó.
Hình nhi hạ của thơ là ngôn ngữ, tức là chữ viết và lời nói, lời là âm thanh. Vậy thơ vốn uyên nguyên, thiện tính, hướng thượng. Vì vậy các thiền sư thường dùng kệ, tức là sự cô đọng nhất của thi ca để thực hiện sứ mệnh tâm truyền. Cũng như một tiếng thét, hay âm thanh của hai bàn tay vỗ vào nhau, tiếng vỡ của thủy tinh,… tất thảy điều đó là sự va dội của âm ba, của sóng âm, của mật truyền qua dòng tâm biến hiện. Chính vì điều này nên Bùi Giáng đã “đi vào cõi thơ” của các danh tác một cách dễ dàng và tạo riêng cho chính mình một cõi thơ phiêu hốt.
Điêu linh một cuộc ai bày/ Bốn chân giường sập tội này tại ai
(Bờ tồn sinh, Bài ca quần đảo, 1963)
Thơ của Bùi Giáng là vậy, không dụng công, không cố sắp chữ đặt vần, thơ ông tự nhiên, như nhiên diễn đạt sóng âm thanh mọi lúc mọi nơi, những ký hiệu, mật mã trong thi ca Bùi Giáng chỉ dành cho những tâm hồn cô liêu nhất và hùng tráng nhất. Vì con người vốn ưa nô lệ vào cái hiểu của duy lý mà quên mất sự rung cảm. Rung cảm là trạng thái siêu ngôn ngữ trong thi ca, là trạng thái tâm truyền tâm trong thiền và trạng thái vô cầu vô trú hòa vào ngôi lời thần chú (tanra) trong mật giáo, cũng như lời nguyện cầu thượng đế trong tinh thần của độc thần giáo...
Một hoàng hôn đợi hai môi / Một bình minh đón hai đời biệt ly
Một đêm bếp núc ly kỳ / Nghe trong thớ củi mộng gì đi hoang
(Logos, Lá hoa cồn, 1963)
Bùi Giáng vốn là một đại sư lập tông phái thiền thi đầu tiên và cuối cùng của thế kỷ 20. Bằng con đường trí huệ qua ngôn ngữ, Bùi Giáng đã vứt bỏ phương tiện ngôn ngữ của trần gian theo thể cách luận lý học, lô gic học hay cấu trúc học,… với Bùi Giáng chỉ còn âm thanh chuyển động xuyên qua ông để được giải mã qua hệ ngữ ngôn vụt hiện của riêng ông, nhằm gửi lại trần gian khổ lụy những bông hoa dại bên bờ mương gợi lên một niềm hy vọng nhỏ nhoi tỏa hương ngất ngây.
Đêm gầm bất tuyệt thiên nhiên / Càn khôn chết lịm dưới phiền sương gieo
(Sa mạc phát tiết, Lá hoa cồn, 1963)
Hay Hai tay buông bắt vô thường / Đốt xương ngón ngón quẹo đường cong cong
(Ở bên rìa mép, Lá hoa cồn, 1963)
Bi kịch của trần gian là đem cái hữu hạn đong đếm vô cùng, đem con đòi hiểu mẹ, đem mặt đất để hiểu bầu trời, đem lý trí suy diễn cái siêu lý,… đem ngôn ngữ diễn giải cái vô ngôn. Như đem mấy trò lô-gic, luận lý, triết lý, cấu trúc ngôn ngữ,… để giải thích, mô tả, thuyết giảng về những cái vượt ra khỏi sự tưởng tượng của con người, vượt ra khỏi cảm nghiệm kinh nghiệm của con người, vượt ra khỏi tư duy nhị nguyên của loài người... Chẳng hạn như: thượng đế, niết bàn, tánh không, thực tại,… điều đáng nói hơn nữa là ngôn ngữ của các vùng miền không phổ biến, ở các nước lạc hậu, đang phát triển, các vùng bị cô lập,… không thể mô tả được những sự vật, hiện tượng,… xuất hiện ở các nước tiến bộ, phát triển mạnh, các nước có bộ ngôn ngữ phổ biến. Ví như: Ở các quốc gia đã phát triển rực rỡ nền khoa học kỹ thuật cao, nền y học tân tiến cho ra các thiết bị y khoa hiện đại, các loại thuốc đặc dụng, các phi thuyền, các loại vũ khí tối tân,… thì họ có quyền áp đặt ngôn ngữ khi đưa các sản phẩm khoa học kỹ thuật đó ra thị trường và các nước sử dụng chỉ biết gọi đúng tên mà các quốc gia tiến bộ đã đặt tên, gán nhãn, định danh... Nói vấn đề này để gửi đến các nhà ngôn ngữ học của các nước lạc hậu, đang phát triển hãy bớt hão huyền và tự đắc cho mình là sáng tạo và thấu rõ quy luật ngôn ngữ... Điều này càng được minh chứng trong thời đại của AI và mạng toàn cầu này.
Chỉ duy một phút mà ra / Tình đi khắp nẻo sát na nghìn trùng.
(Từ bao giờ, Như sương, 1998)
Qua vấn đề trên, cũng để thấy Bùi Giáng đã vượt thoát rào cản thân phận nhược tiểu, đưa ngôn ngữ Việt băng qua hệ hình quy ước về lịch sử và giải vây cho những người nghiên cứu ngôn ngữ ở nước Việt Nam. Tạo nên một vị thế khác cho ngôn ngữ Việt Nam.
Triết thi Bùi Giáng bỏ quên mất và vượt qua loại hình văn phạm nô dịch từ Tần, Hán, Đường, Tống, Nguyên, Minh, Thanh, rồi Pháp đến Mỹ... Vượt qua quy ước của những nhà sắp xếp, thống kê, quy nạp, lý luận, cấu trúc học, âm vị học,… về ngôn ngữ tiếng Việt. Từ đó, Bùi tiên sinh đẩy ngôn ngữ Việt lên nấc thang khác ngang với các ngôn ngữ của các quốc gia tiến bộ trên thế giới. Giới thiệu và gợi mở ra một tiền thân của tiếng Việt về sự đa dạng trong hệ nguyên âm rất phong phú và đầy nhạc tính, cùng với sự đảo ngữ, đảo nghĩa rất thú vị, sinh động…
Có mấy ngón / Năm ngón / Mười ngón / Món người /Non ngắm / Nắm ngon /
Hoặc là năm ngón nón ngăm / Màu đi trên nước cá tăm chuyên cần
(Trong bàn chân đi, Đười ươi chơn kinh, 2012)
Hay
Gọi là trong cõi gọi ra / Gắt gay tiết điệu đằng la lồ nồn
Gẫm câu kỳ ngộ bồn chồn / Xin chào giữa bước / Gắp-Cồn-Lá-Hoa
(Logos vãn niên ca, Đười ươi chơn kinh, 2012)
Và
Giữa hư vô nếu em còn / Nhớ ta / Em gửi cái hồn cho ta
Úp môi ôm mặt khóc òa / Cồn lê lên miệng là ba bốn lần
(Trời khóc Marilyn, Đười ươi chơn kinh, 2012)
Với bài (Ngẫu hứng) đầy ngấn hẩu
Một hôm gầu guốc gầm ghì / Hai hôm gần gũi cũng vì ba hôm
Bôm ha? đạn hả? bao gồm / Bồm gao gạo đỏ bỏ gồm gạo đen
Sau này một số người ảnh hưởng Bùi Giáng cũng làm thơ lái, nhưng chỉ ở phần đảo chữ chứ chưa đạt đến trình độ vừa đảo ngữ vừa đảo nghĩa rất ly kỳ của Bùi tiên sinh.
Sáng tạo ngôn ngữ là công việc lớn nhất và quan trọng nhất mà một thi nhân chân chính phải làm và nên làm suốt hành trình sáng tạo thi ca của chính mình.
Nhưng với Bùi Giáng, ngoài thứ thi ca sáng tạo ngôn ngữ, ông còn đẩy thi ca đến tính mệnh dân tộc và vượt cao hơn nữa là thể tính. Tức là Việt tính là hồn cốt của một dân tộc nói riêng hay tính thể của nhân loại nói chung.
Buổi về đắm lụy điêu linh / Còn nguyên xứ sở mang hình chiêm bao
Máu se tàn lạnh điệu chào / Trên đầu phố lạ vẽ màu quê chung
(Marc Chagall, Ngàn thu rớt hột)
Từ thể tính Việt thi nhân họ Bùi hô mưa gọi gió để tạo ra một con đường (Lâm Đạo), tức là “đường đi trong rừng”. Những bước chân trong khu rừng ngữ ngôn phải tự khai phá và khai mở một luận đề triết thi, nhằm tạo ra thứ triết lý qua ngôn ngữ thi ca của chính mình. Vấn đề Triết Việt, từ thuở cùng thời đã có Linh mục Kim Định lập nên “Triết lý An vi”, sau đó là triết nhân Phạm Công Thiện đã đặt vấn đề về “Triết lý Cái và Con” in trong cuốn “Ý thức bùng vỡ”,… điều đó được hai vị thực hiện qua sự ưu tư triền miên và bằng những nền tảng cơ sở lý luận và phương pháp lập thuyết theo mỗi thể cách khác nhau như đã được gieo trồng từ kiếp nào.
Nhà văn Phạm Quỳnh từng nói với đại ý: Truyện Kiều còn nước ta còn. Chúng ta có thể hiểu, Truyện Kiều chính là sáng tạo thêm cho kho tàng ngôn ngữ tiếng Việt, qua ngôn ngữ trong Truyện Kiều hàm lượng văn hóa Việt đã được lưu giữ và bảo tồn, vì vậy có thể nói: Truyện Kiều còn thì Tiếng Việt còn, tiếng Việt còn thì Văn hóa Việt còn, tức là Việt tính còn và vì vậy mà nước Việt Nam sẽ tồn lưu mãi mãi.
Tôi gọi Cần Thơ là Cần Thở / Cần Thở muôn đời là Gió Việt đêm nay
Nhưng trong bối cảnh đương thời với thời tiết khí hậu khắc khiệt mà mùa màng chiến tranh gặt hái triền miên trên mảnh đất buồn trăm năm đã dẫn đưa cuộc phiêu lưu của Bùi Giáng thi nhân về với đại dương mênh mông của không tính, một thứ hư vô hiện hữu khủng khiếp trước thời cuộc và đời sống thường nhật của thi nhân. Khiến những người còn lương tri như Bùi tiên sinh phải lao vào con đường không lộ của ngôn ngữ, để xô đẩy đến trạng thái phi ngã của ngôn ngữ, tức phi ngã của Việt ngữ, cũng là vô ngã của Việt tính, tức là vô ngã Việt. Và trong cuộc tang thương bi thảm của dân tộc vào mùa chiến chinh, triết thi họ Bùi đã ngộ ra sự trùng phùng vĩ đại, một sự hy vọng gửi vào những con người đang đối diện tử sinh từng phút giây. (Thưa rằng li biệt mai sau / Là trùng ngộ giữa hương màu Nguyên Xuân). Chỉ có những tâm hồn thấu thị ngọn nguồn tử sinh mới dám khẳng định trong li biệt sẽ có trùng phùng, nhưng lại trùng ngộ giữa nguyên xuân. Hai câu thơ trên như một công án thiền, một sự tinh đọng nhất của kinh Hoa Nghiêm. Nhắc lại một lời hứa bi thương nhất của các vị Bồ tát và lời khẳng định vĩ đại nhất trần gian của Đức Phật Thích Ca: “Ta là Phật đã thành, các người là Phật sẽ thành”.
Hoặc rằng người cũng là tôi / Hay là tôi cũng là tôi như người
Ấy rằng tinh thể đười ươi / Lời rằng quyết tuyệt và tươi vui và
Từ đó, ông rong chơi nhảy múa suốt bốn mùa xuân hạ thu đông. Đó là nói theo thể cách của quy luật vận hành vũ trụ thuộc thế gian pháp. Còn với Bùi Giáng chỉ có một mùa duy nhất: Chào Nguyên Xuân. (Gặp nhau ở giữa con đường / Mùa xuân phía trước miên trường phía sau). Hay (Em về mấy thế kỷ sau / Nhìn trăng có thấy nguyên màu ấy không).
Cuộc rong chơi của triết thi dị thường Bùi Giáng đã khiến thi sĩ triết nhân Phạm Công Thiện khám phá ra cuộc vượt đại dương đầy hào hứng và thi vị bằng tư tưởng của triết thi Bùi Giáng. Cũng may mắn cho ông Bùi Giáng là một người bạn vong niên tri kỷ của ông đã thấu hiểu ông là Phạm Công Thiện. Triết nhân Phạm Công Thiện dành nguyên một chương để nói về cuộc du hí của Bùi Giáng. Ông Thiện với ý muốn nói ông Giáng không cần phải đi đâu bằng cái thân xác phàm này cả, vì ông đã xuất hồn chu du khắp trái đất để gặp các đại triết gia, các nữ minh tinh, các đại thi hào, văn hào khắp thế giới này... Ông còn ngược về quá khứ của các thế kỷ trước để gặp Nguyễn Du, Nguyễn Bính, Tản Đà, Hồ Xuân Hương,… ông bước qua Trung Hoa gặp Lý Bạch, Đỗ Phủ, Tô Đông Pha,…
Riêng anh về suốt suối vàng / Trùng phùng Lý Bạch nghênh ngang Tản Đà (Uống rượu). Rồi ông cưỡi mây sang tận Nhật Bổn để gặp đại thiền thi Bashô, đại thiền sư D.T. Suzuki,… và ông đã đi trước thời đại để khiêu vũ cùng gió mây trăng sao bên ngoài địa cầu: Trần gian tưởng niệm cỗi nguồn tương lai (Chuyện chiêm bao một)
và ngay chính Sài Gòn thuở phiêu bồng, ông rong chơi vô ngại:
Sài Gòn phố thị rong chơi / Đi lên đi xuống đã đời du côn
Bây giờ, chúng ta lần lượt đi theo từng nấc thang mà Bùi Giáng đã bước lên. Gọi là nấc thang để mọi người còn mường tượng được lối đi, còn với Bùi Giáng thì đó là không lộ, tức không còn hệ quy chiếu nào ràng buộc được tâm thức của triết thi họ Bùi. Có thể Bùi tiên sinh đã ngộ ra và thường trực ở trạng thái phiêu hốt, thấy rõ tiến trình tâm thức chính mình, nên ông đã mượn ngôn ngữ để đính chính cho những trang lề chữ dòng lạc lối bằng cuộc đùa vui chữ nghĩa rất nghiêm túc trong duyên sinh khi mượn hình ảnh bàn chân và nước.
Người con gái lội qua khe / Bàn chân với nước lạnh đè lên nhau
Nỗi niềm tưởng lại xưa sau / Bàn chân với nước cùng nhau lại đè
Để xác định căn tính, hồn cốt của một dân tộc, đặc biệt là một dân tộc mà cội nguồn chỉ được biết đến qua huyền sử quả thật là rất khó khăn. Dân tộc Kinh ở Việt Nam chính là một dân tộc như vậy, dân tộc bị thất lạc sử thi, dân tộc còn mơ hồ về nguồn gốc và cội rễ văn hóa... Về lãnh vực tôn giáo của dân tộc Kinh cổ xưa có lẽ như một giấc mộng giữa khu rừng huyền ảo, mơ hồ như một hư ảnh không rõ nét... Vì thế ngày nay, chúng ta thấy rõ, Việt Nam đã du nhập nhiều tôn giáo, và có thể xem đạo Phật là tôn giáo có số lượng người Kinh tham gia nhiều. Bởi đạo Phật luôn nương vào văn hóa bản địa để truyền bá Phật pháp, vì với Phật giáo, tâm thức là quan trọng hơn cả, vạn pháp do tâm tạo mà.
Tiếng Việt vốn tự thân đã có ngữ điệu, vì vậy hệ ngôn ngữ Việt có thể hóa thân vào các ngôn ngữ khác một cách dễ dàng mà không bị đồng hóa. Dù chữ viết Việt đang sử dụng hôm nay có thể nói là muộn nhất trong các hệ ngữ học. Chữ Việt trong thời kỳ bị Hán hóa đã được diễn Nôm một cách trí tuệ để thoát khỏi sự đồng hóa. Đến thời Pháp, Mỹ,... các tiếng lời của Pháp, Mỹ cũng đã được Việt hóa một cách kỳ lạ mà không cần phải có từ điển giải thích, minh họa,… thử dẫn chứng một vài ví dụ Việt hóa tiếng Anh, tiếng Pháp: cream - kem, beer (bière) - bia, café - cà phê, beurre - bơ, chou-fleur - súp lơ, gâteau - bánh ga tô, guidon - ghi đông,…
Vài ví dụ Việt hóa tiếng Trung: can - gan, quả điều - hủ tiếu, xá xíu - char siu, hoành thánh - wun tun, lạp xưởng - lập chống, gần - cận, yêu - ái, nước - quốc,…
Viết đến đây tôi chợt nhận ra, căn tính, hồn cốt Việt chính là vô tính, vô tính không phải là không có, mà là cái tâm ban đầu, là hương màu nguyên xuân,… và hồn cốt Việt đã được Bùi tiên sinh dẫn đưa:
Buồn vui như thể thân mình / Ai chia nửa máu, ai giành nửa xương
Máu xương đã tạo dựng nên Việt Nam từ xưa đến nay, biết bao lớp người đã ngã xuống từ hàng ngàn năm trước để bảo vệ giống nòi, bảo vệ giang sơn, mở mang bờ cõi... đến nỗi thiên nhiên đã tạc thành biết bao Hòn Vọng Phu. Mong sao nghiệp chinh chiến đã chấm dứt với Việt Nam, để người dân trong nước có đời sống hạnh phúc, hòa thuận cùng lao động, phát triển và hưởng thanh bình. Xin trích bốn câu thơ trong bài Phụng Hiến để thấy được tình yêu trọn vẹn của triết thi Bùi Giáng, cũng là lời gợi nhắc đến mọi người để kết thúc bài viết này.
Xin yêu mãi yêu và yêu nhau mãi
Trần gian ơi! Cánh bướm cánh chuồn chuồn
Con kiến bé cùng hoa hoang cỏ dại
Con vi trùng cùng sâu bọ cũng yêu luôn.
Hiên An Tây, 8/2026