Sông Ông Đốc - Cà Mau là quê cũ của tôi ở cuối miền nước Việt, thuộc về miệt biển. Dọc theo bãi phù sa dài toàn là rừng cây mắm. Thời tiết đơn giản chỉ có hai mùa: mưa và nắng. Nhớ nhứt là mùa gió Tây từ biển thổi vô, dân nơi đây gọi là mùa Nam. Mùa nam kéo dài một hai tháng, và có lúc mưa suốt cả tháng trời. Trong những ngày biển động, tất cả ghe đánh cá trong thị tứ đều đậu lại hết.
Tôi còn nhớ những ngày biển động, không ra biển được, ba tôi và tôi đợi khi con nước chững, bơi xuồng ra bờ sông thì cũng vừa lúc nước đã trở ròng. Bất chấp mưa, gió hai ba, con thay phiên nhau: người bơi xuồng, người cầm vợt nhảy ùm xuống nước rồi đưa vợt kề vô mé sông, xúc tôm càng và cá bống. Lặng hụp tới khi nước ròng chảy xiết, đã xúc hết một khúc sông thì trời cũng đã xế trưa, tôm càng và cá bống đã khá bộn. Chúng tôi gác vợt lên rồi bơi xuồng về. Tới nhà má tôi đem tôm cá chia, nói chia chớ thiệt ra là bán, cho hàng xóm một phần, phần còn lại để dành ăn.
Chiều đó, ba tôi với chú, bác ngồi trên cái chõng bằng nhánh cây mắm ở nhà trên, ba tôi có mồi, chú bác có rượu đế, các ông cùng nhâm nhi rượu đế với tôm càng luộc chấm mắm tỏi, ớt. Tới bữa cơm chiều, gia đình quây quần bên mâm tôm càng xào hành, tiêu, tỏi, cá bóng kho, canh rau má gạch tôm; hương vị nước mắm biển với gia vị quện sệt của cá bóng kho khô, cùng với canh ngọt, đăng đắng của rau má, anh chị em tôi ăn hết sạch nồi cơm. Khi đi xa, tôi mới biết đó là cái hồn, cái nghĩa tình và cái hương vị của quê hương nằm hết trong mâm cơm của những ngày biển động.
Đứng bên vàm sông nhìn ra biển nước xanh trời trong thấy hòn Chuối nằm như con lạc đà trên nước. Nhìn vô trong là rừng mắm rì rào. Một dòng sông uốn lượn, những con rạch quanh co, kinh đào ngay thẳng, con nước ròng lòi bãi, con nước lớn nhảy bờ. Và những ao hồ, chỗ nào cũng có nhiều tôm cá, cả một kho thức ăn của trời cho để nuôi sống con người.
Đó là nơi đất đai màu mỡ, nước mặn, nước ngọt đầy đủ, nơi con người có thể gieo trồng, đánh bắt và tự tạo ra thực phẩm cho chính mình. Không phải tất cả, nhưng ít nhứt, một phần những gì tôi ăn nó đến từ bàn tay tôi mần ra. Và điều quan trọng hơn hết là: tôi được làm việc trong môi trường tự do.
Ngày ấy, dù quê hương tôi đang chìm trong khói lửa chiến tranh, tuy thức ăn không nhiều, nhưng bà con nơi đây chưa từng biết đến cái đói. Luôn có thức ăn mỗi ngày, từ tôm cá dưới sông, rau vườn, cơm gạo từ đồng ruộng. Ở đây tôi muốn nói đến thức ăn trong lúc quê hương yên bình, không chỉ nói đến sự no đủ, mà còn là những món ăn ngon lành, bổ dưỡng, mang lại sức khỏe và niềm vui sống.
Đối với tôi, quê hương là nơi an toàn để tôi được là chính mình, được nói lên những điều tôi nghĩ, kể cả những chuyện khó nghe nhứt.
Còn nhà! Nhà không chỉ là mái lá, bức vách lá trầm, hay chiếc giường cây, manh chiếu tôi nằm. Mà là nơi tôi có thể trò chuyện tự do, làm điều mình muốn, miễn là không trái với lương tâm. Với tôi, khái niệm “nhà” rộng lắm. Nó là không gian vật chất, nhưng cũng là sự che chở, là đạo đức, là sức mạnh tinh thần. Nơi để rèn luyện tôi nên người.
Tôi là người bất đắc dĩ phải rời xa quê hương. Tôi đã rời quê hương từ năm mười chín tuổi. Thoáng một cái đã hơn bốn mươi năm kể từ ngày quê tôi thay chủ đổi ngôi. Tôi sống ở đó với chế độ mới ba năm. Ba năm dưới chế độ mới, tôi học cách nín lặng với những lời vô cớ, cúi đầu khi bị tổn thương trước những con người ỷ quyền ỷ thế. Mỗi buổi sáng thức dậy, loa phóng thanh trước cửa nhà vang vọng như nhắc rằng thân phận tôi bây giờ không tự do như xưa nữa, mặc dù tôi không phải là người tù. Ba năm liên tiếp bị tủi nhục trước khi rời đất nước ra đi.Tôi vẫn nhớ giây phút lái ghe rời bến khi tôi mới mười chín tuổi, gió biển thổi mặn, nhưng mặn hơn vẫn là vị của nước mắt nuốt vào trong. Suốt hơn bốn mươi năm qua, tôi xa nhà và cũng xa quê cha đất tổ.
Nhưng có nơi khiến tôi thấy như đang ở nhà và cũng là quê hương. Tôi muốn nói đây là vùng Flevoland - Hòa Lan hiền hòa là nơi tôi đang ở.
Trong nhiều thế kỷ trước, nghe tên Roggebotzand khiến các thủy thủ và ngư dân rùng mình sợ hãi. Đó là một bãi cát hiểm trở ngoài cửa sông IJssel, nơi nhiều tàu thuyền đã gặp nạn. Giờ đây, ở đó cây cối mọc um tùm, đặc biệt là rất nhiều cây thông, vân sam và bạch dương.
Ngày nay Roggebotzand là khu rừng lâu đời nhứt ở Đông Flevoland. Nhờ đất đai màu mỡ, cây cối mọc lên nhanh chóng; do đó, khu rừng trông già hơn nhiều so với tuổi thật của nó. Vào mùa thu, nấm mọc rất nhiều, chồn thông nhảy nhót trên ngọn cây, và chim lớn đuôi trắng cũng thường xuyên xuất hiện. Đối với một khu rừng chỉ mới sáu mươi lăm tuổi, Roggebotzand trở nên già dặn như những khu rừng nhiều tuổi hơn.
Nhiều con đường mòn khiến Roggebotzand trở thành một khu rừng tuyệt đẹp để đi bộ, nơi ta có thể bắt gặp một con nai hiền đứng ngước cổ, lúp xúp trong lau cỏ màu xanh.
Có lẽ vì ở đây không có những người cầm cưa, cầm búa vào rừng chặt đốn bừa bãi như rừng ở quê tôi, nên hổng thấy dấu hiệu rừng bị tàn phá. Chỉ thấy vài anh, chị bận đồng phục màu xanh lá cây, để người ta nhận biết là những người bảo vệ rừng đó thôi.
Ở đây con người đã chiến đấu với thiên nhiên để lấy rừng xanh và để giữ lấy sự bình yên cho người và muôn thú. Người nơi đây tự hào về điều đó, nhưng lặng lẽ và kín đáo, không ồn ào, cũng không rầm rộ phô trương. Vì vậy mà rừng ở đây hổng có dấu vết của những anh hùng như rừng rú Việt Nam trong ký ức. Chỉ có tiếng gió Bắc Âu thổi qua tán lá, nhẹ mà xa, gợi lại ký ức người xa quê và nhắc nhở rằng mỗi khu rừng đều mang một linh hồn riêng của nó.
Tuy vùng Flevoland ngày nay không còn "đê biển" truyền thống như là đất liền giáp trực tiếp với biển cả, mà được bao quanh bởi các đê vòng lớn và đê ven các hồ. Con đê vòng quanh bảo vệ vùng Flevoland, như Knardijk dài hai mươi ba cây số, nó không quá lớn nhưng đủ để tôi đứng nhìn ra biển, và chợt thấy lòng nao nao giống ngày xưa ở vàm sông Ông Đốc. Tôi yêu thích và trân quý vùng đất này, vì nó rất mới, không có bê tông hóa, không có thành phố cổ, không có pháo đài, súng ống đặt theo bờ thành, không có di tích chiến tranh như các vùng khác của Hòa Lan. Mọi thứ ở đây đều mang dấu ấn của bàn tay con người hiện đại: kinh đào thẳng, đường thẳng và rộng, rừng nhân tạo, khu dân cư và các công trình được xây dựng sau thập niên 1970 mới mẻ và rất đẹp.
Hơn bốn mươi lăm năm đi xa, tôi nhớ nơi này như nhớ quê hương. Vì ở đây, tôi cũng có thể nhìn ra thấy biển, nhìn vào thấy rừng, ruộng lúa, vườn cây, sông rạch và ao hồ. Và hơn vậy nữa, nơi này đã cưu mang tôi, cho tôi một cộng đồng, tự do, nhân bản, một cảm giác thân thuộc và sự an toàn. Những điều cao đẹp đó khiến tôi tin rằng: tôi đang ở nhà.
Vì vậy, với tôi, “nhà” là nơi tôi được sống với những giá trị mà tôi quý mến, được làm việc với những điều tôi thích và được là chính tôi, một cách trọn vẹn.
Dronten 16/8/2026