Ủng hộ VCV
Số tác phẩm
22.674 tác phẩm
2.589 tác giả
174
77.774.255
 
Như thể một phương tiện thiện xảo(*)
Inrasara

Khi người ta đọc nửa vời thì người ta suy nghĩ nửa vời.

Khi người ta suy nghĩ nửa vời, người ta ăn nói/ viết lách nửa vời…

 

 

1. Phê bình văn học là khoa học vừa là nghệ thuật. Đó là chuyện ai cũng biết.

Là khoa học, nó đòi hỏi người viết bao quát được vấn đề, lập luận vững chắc, dẫn luận phong phú và chính xác bên cạnh, lí giải thuyết phục. Không đạt các tiêu chí đó, người viết chỉ là kẻ hóng hớt tán chuyện đầy vô bổ.

 

Là nghệ thuật bởi, phê bình yêu cầu ở người viết độ nhạy cảm cao với cái mới, có khả năng thẩm định tác phẩm/ vấn đề chưa từng được biết/ bàn luận tới trước đó. Đứng trước cái tinh khôi, người làm phê bình cần huy động cảm quan thiên phú để có thể tiếp cận khía cạnh vi tế nhất của sự thể.

 

Ngoài ra nó đòi hỏi anh/ chị ta thủ đắc cách diễn đạt linh hoạt cho mỗi vấn đề. Để chính tác phẩm phê bình phải là một công trình nghệ thuật, chứ không còn dừng lại ở một tiểu luận khô khan thiếu sinh khí. Một nhà phê bình viết văn tồi thì chớ nên làm phê bình, phát biểu của một nhà phê bình thời danh không phải không đáng suy ngẫm.

 

Đòi hỏi sau cùng là, nhà phê bình học biết suy tư trong chiều hướng đưa nền văn học phát triển ở ngày mai, chứ không phải ngược lại. Một phê bình sẵn sàng cho thế hệ hôm nay sáng tạo cái mới trong tâm thế mở ở thời đại toàn cầu hóa.

 

Chưa kể hai “tiêu chí” đầu, ngay nỗi “viết hay” và “học biết suy tư trong chiều hướng đưa nền văn học phát triển ở ngày mai” thôi, Nguyễn Hưng Quốc đủ chứng tỏ là một nhà phê bình sáng giá. Bởi, không ít nhà phê bình suốt đời không làm gì hơn là nhai lại từ nhai lại từ nhai lại.

 

Trước khối lượng khổng lồ tác phẩm ra lò, không ai tự nhận quán xuyến tất cả các sáng tác khác lạ và cả khác nhau ấy. Một nhà phê bình chỉ có thể chọn lựa một quan điểm thẩm mĩ nhất quán, để làm phê bình. Ít ra, bạn biết đứng trên nền tảng thẩm mĩ của chính tác phẩm đó để phê bình nó.

 

2. Tôi nợ gì Nguyễn Hưng Quốc?(1) Nhiều, rất nhiều. Như tôi từng nợ Bùi Giáng, Phạm Công Thiện trước kia. Xa hơn, J.Krishnamurti, R.Chandra hay M.Heidegger, J.Derrida,...(2) Nhiều “mệnh đề” tôi mượn lại của anh, nhất là nhận định mà anh rút ra được từ nghiên cứu văn hóa văn chương Việt Nam thời gian qua. Hoàng Ngọc-Tuấn nữa, dù ít hơn – từ các nghiên cứu và dịch thuật là chính. Ngoài ra, không gì khác.

 

Bởi con đường của tôi hoàn toàn khác hai anh. Trong lúc Nguyễn Hưng Quốc đi sâu vào lí thuyết mĩ học văn chương, tôi hướng đến Tư tưởng; Nguyễn Hưng Quốc tập trung phê bình văn hóa văn chương, tôi dấn vào con đường khai mở tinh thần của các sáng tác đương đại; Nguyễn Hưng Quốc tham vọng xây dựng lí thuyết văn chương mới (?), tôi: sáng tác thơ ca. Nghĩa là, hoàn toàn khác. Đọc tôi, cần đọc theo chiều hướng đó. Thử dẫn các bài viết chính:

 

- Về tổng quát: “Văn học Đông Nam Á trong tâm thế hậu thuộc địa”, đăng lần đầu ở Tạp chí Tia sáng số 14, 20.07.2006; “Nhập cuộc và hy vọng”, Tạp chí Văn nghệ Ninh Thuận, số 16.2001 (về thơ địa phương Ninh Thuận/ các trung tâm văn hóa lớn); “Sáng tác văn chương Chăm hôm nay”, Tagalau 2, 2001 (về thơ tiếng Chăm/ Việt); “Văn chương TP Hồ Chí Minh hậu đổi mới, khởi đầu cho một khởi đầu”, Tham luận tại Hội thảo khoa học Đời sống Văn học - nghệ thuật TP Hồ Chí Minh thời kì hội nhập, 16.10.2007; “Thơ văn trẻ Sài Gòn ở đâu?”, báo Văn nghệ trẻ, số 45, 11.11.2007 (đặt vấn đề thơ ngoài lề/ chính lưu).

 

Với các tiểu luận này, bằng các thực tiễn sáng tác đương đại, tôi đưa suy tư len giữa vạch đứt của thứ tư tưởng phản [chuyển] động mang tính phân biệt đối xử trung tâm/ ngoại vi trong văn chương, qua đó hi vọng khai phóng nỗi mặc cảm tự ti đầy tòng thuộc.

 

- Về từng dòng văn chương: “Thơ dân tộc thiểu số, từ một hướng nhìn động”, đăng lần đầu tại Talawas.org, 12.04.2006. Ở đây, từ quan điểm thẩm mĩ của chính dòng văn chương này, tôi nhìn ra sự lặp lại về ngôn ngữ thơ (Lương Định), về đề tài (Mai Liễu), về thủ pháp (Lò Ngân Sủn), về mặc cảm ngoại vi (Pờ Sảo Mìn),… Tiểu luận mà Hoàng Ngọc Hiến cho là “có thể đặt ngang hàng với Một thời đại mới trong thi ca của Hoài Thanh” (tạm dẫn ông để giải quyết khâu oai như thế!). Về dòng văn chương phi chính lưu: “Khủng hoảng thơ trẻ Sài Gòn”, Tham luận tại Đại hội Hội Nhà văn TP Hồ Chí Minh, 03.2005 hay dòng thơ nữ quyền luận: “Thơ nữ trong hành trình cắt đuôi hậu tố “nữ”, Talawas.org, 18.04.2006. Về thơ hậu hiện đại: “Hậu hiện đại và Thơ hậu hiện đại Việt”, Vanchuongviet.org, 21.12.2007 và “Nhập lưu hậu hiện đại không quá độ hiện đại hậu kì”, Tham luận tại Hội thảo Thơ Việt Nam đương đại, Trường Đại học Khoa học Xã hội & NV, TP Hồ Chí Minh, 19.02.2008.

 

Đây là điều chưa một nhà phê bình nào làm, cả trong nước lẫn hải ngoại. Chỉ nhìn từ chiều hướng này thôi, mới thấy cái khác của tôi. Chứ không phải ở lối nhìn vụn vặt, manh mún(3).

 

- Về từng tác giả, tôi có hơn ba mươi bài, tiêu biểu là: “Nguyễn Hoàng Tranh, thơ như là một giải trừ thói quen”, Tienve.org, 02.2004; “Phan Nhiên Hạo, Lưu vong chuyên nghiệp nơi Thiên đường bằng nhựa”, Tienve.org, 09.09.2004; “Phạm Lưu Vũ và Ngụ ngôn hậu hiện đại”, Tienve.org, 17.07.2007; “Nguyễn Vĩnh Nguyên, sau nỗi lưu lạc của khu vườn quen thuộc”, báo Văn nghệ trẻ số 28, 07.2007; “Lê Anh Hoài và Lối viết tạp kĩ”, báo Người Hà Nội, 28.09.2007; “Như Huy khai vỡ hiện thực như thực từ những câu phức”, Talawas.org, 05.04.2008; “Nhật Chiêu, viết như là thở”,…

 

Đây là các tác giả sáng tác trong cảm quan mới, sử dụng nhiều thủ pháp mới. Tôi đứng trên quan điểm thẩm mĩ [mới] của chính tác giả để nhận định về các sáng tác của họ, ngay khi chúng vừa xuất bản. Có thể nói, tôi là kẻ đầu tiên [trên thế giới] viết về chúng. Lâu nay, chúng ta rất ngại đi vào vùng xoáy dễ sa sẩy của sáng tác học mới, của hôm nay. Tinh thần ngại phiêu lưu khiến các nhà phê bình luôn tìm chốn trú ẩn an toàn trong miền sáng tác thuộc hệ mĩ học đã được thời gian thẩm định và lưu kho.

 

3. Vài năm qua, tôi mang tiếng là kẻ cổ xúy cho cái mới, ưa các lập ngôn và tuyên ngôn. Phần nào đó, không sai. Nhưng tôi nhìn nhận các chủ nghĩa (ism) trong văn chương khác. Cùng một lối, dù không ưa nổi mấy vụ phân biệt đối xử ngoài lề/ chính thống, nam/ nữ giới, dân tộc thiểu số/ đa số, địa phương/ trung ương,… nhưng tôi đã dấn thân vào nó. Tôi coi đó như thể phương tiện thiện xảo cần thiết mang tính giai đoạn để phá vỡ vách ngăn văn chương [bị cho] là ngoại vi với văn chương trung tâm, thứ tâm lí tệ hại được dựng ngay trong tâm hồn kẻ sáng tác lẫn nhà phê bình ở thế ngoại vi.

 

Quá say sưa với những tuyên ngôn [chủ nghĩa] là điều có hại, Lê Đạt nhận định. Đó là ông nói về nền thơ Pháp, đất nước chuyên sản sinh chủ nghĩa. Còn tại Việt Nam? Chúng ta chưa có truyền thống sáng tạo lí thuyết mới, nền triết học mới. Thì học thiên hạ là chuyện chẳng những bình thường mà còn cần thiết. Nếu không thế, chúng ta thử đẻ ra cái [ism] mới đi! Còn sáng tác thiếu lí thuyết [mới], nền văn chương chúng ta đã và đang ở đâu? Hỏi có nghĩa là đã trả lời rồi.

 

Với tôi, mặc dù tôi “ủng hộ, cổ xúy” mọi lí thuyết, các sáng tác theo trào lưu [mới], và cả làm nữa, nhưng có lẽ do ý hướng (xem thêm: “Bốn cứu cánh của đạo sĩ Bà-la-môn & thơ”, Tienve.org, 2008) và cả nền tảng tư tưởng, tôi đã nghĩ hoàn toàn khác. Tất cả thuyết lí, phê bình hay gì gì khác của tôi chỉ là bước chuẩn bị cho khai mở một cõi miền tiên quyết của sáng tạo. Chứ không phải để đánh đổ điều gì đó, truyền bá chủ thuyết nào đó hay tệ hại hơn cả - cạnh tranh với một ai đó.

 

Trích đoạn “Thơ như là con đường” (Tạp chí Thơ, số 01.2008):

 

“Tuyên bố khai tử Thượng đế, F. Nietzsche quyết đảo ngược tất cả giá trị từng hiện hữu trước đó để thiết lập bảng giá trị mới. Thế nhưng nói như M. Heidegger đảo ngược siêu hình học vẫn cứ là siêu hình học. Con người vẫn cần một cái gì đó để vin vào, một cái gì đó đều bị quy định bởi lối giải thích nào đó, nghĩa là cứ ở lại trong chân trời của ngôn ngữ tiền tưởng, tư tưởng [bằng] biểu tượng. Sau cái chết của Thượng đế, con người hiện đại đặt trọn niềm tin vào Lí tính và Sự thật. Rồi suốt cả thế kỉ, nhân loại quay cuồng trong hỗn mang của trùng trùng “giải thích” và hệ thống. Để chính những giải thích và hệ thống đó đẩy loài người rơi vào vực thẳm khốn cùng và tuyệt vọng. Chủ nghĩa hư vô (nihilism) lan tràn. Từ tuyệt đối tin tưởng vào Lí tính, con người không còn tin cái gì cả. Thế là khủng hoảng! Chối từ đại tự sự, chủ nghĩa hậu hiện đại quyết đẩy sự khủng hoảng đến tận đầu mút bên kia của hỗn mang, hi vọng tìm một lối thoát khả dĩ.

 

Sơn cùng thủy tận nghi vô lộ

Liễu ám hoa minh hựu nhất thôn.

 

Hậu hiện đại và hư vô chủ nghĩa phân cách rất mong manh tơ trời. Chối bỏ lề thói tiệm tiến rù rì nhích từng bước sang bờ bên kia – quá diệu vợi, mơ hồ và siêu hình, hậu hiện đại sử dụng mọi chất liệu cận tay có sẵn trong sinh hoạt thường nhật, như là một lối đi tắt, thẳng để đạt đến thực tại như thực, siêu vượt nỗi vong thân. Hậu hiện đại trong văn học - nghệ thuật có thể ví như Thiền trong truyền thống Phật giáo. Thiền sư vận dụng mọi phương tiện thiện xảo: la hét, chẹt cửa, đánh bằng hèo, nói tục nói phét,… với mục đích tối hậu là đưa kẻ mê sang bến giác, ngay tức thì. Nhưng muốn chạm mặt cái sát-na ngay tức thì ấy, người tu tập cần kinh qua mấy tầng khổ luyện. Còn Thiền “giả” vẫn có thể kêu yếu chỉ của đạo Phật là cọc phân khô (càn thỉ quyết – Lâm Tế), nhưng loại phân đó khô vẫn hoàn khô! Hậu hiện đại cho phép nghệ sĩ sáng tạo sử dụng mọi chất liệu, xáo trộn mọi phong cách, lắp ghép mọi vật làm sẵn. Thế nhưng nếu sản phẩm của bạn không đạt mục tiêu cuối cùng là hiệu quả nghệ thuật, chúng chỉ là trò chơi vô tăm tích của hư vô chủ nghĩa, không hơn (Xem thêm: Inrasara, “Khủng hoảng là tín hiệu tốt lành”, Tham luận tại Hội thảo Mĩ thuật Việt Nam 20 năm đổi mới – Hà Nội, 05.2007).

 

*

Thơ trẻ hôm nay đã bước đi trên cửa hẹp chông chênh ấy, có lẽ.

Viết, trong nền thơ ca thành thật đầy giả tạo, bằng thứ ngôn ngữ giàu sang một cách nghèo nàn, giữa dòng văn chương trịnh trọng già nua nhưng không chịu chết, vài nhóm thơ trẻ nhất tề đứng lên làm loạn.

 

Nhóm Ngựa Trời và hàng loạt nhà thơ nữ thời đại toàn cầu hóa không còn kiêng nể gì nữa, họ đột ngột nổi dậy và bung phá, tự do thể hiện cái Tôi chủ quan của mình. Như thể phản ứng bộc phát ở giai đoạn sơ khởi, khi họ khám phá ra rằng mình là một nửa của thế giới. Không cứ mãi chịu phận tòng thuộc dưới bóng chế độ phụ quyền qua sự áp chế của chủ nghĩa duy dương vật. Trong nghệ thật [và cả trong cuộc sống], tất cả đều được phép. (Inrasara, “Thơ nữ trong hành trình cắt đuôi hậu tố ‘nữ’”)

 

Nhóm Mở Miệng quyết liệt và cực đoan hơn nữa! Họ tuyên bố khắp nơi cái nỗi “không làm thơ”. Họ đập phá và đảo lộn mọi ranh giới phân cách ngoại vi/trung tâm, từ ngôn ngữ thơ đến quan điểm sáng tác hay định kiến cố hữu về cái gọi là chất thơ, cả dạng thức hiện hữu của văn bản tác phẩm văn chương như lâu nay bao nhiêu thế hệ cha ông từng nhìn nhận. Là những điều chưa từng xảy ra trước đó trong truyền thống văn chương tiếng Việt. (Inrasara, “Khủng hoảng thơ trẻ Sài Gòn).

 

Tương lai thuộc về chúng tôi, các nhà thơ thế hệ mới có toàn quyền tự tin tuyên như thế! Thế nhưng, giữa lòng khí hậu văn chương hậu hiện đại, bên cạnh nỗ lực vươn vượt của thi sĩ chân tính, các món cách tân hay cách mạng giả hiệu nẩy nở và bành trướng, là không thể tránh. Bởi ranh giới thật/ giả tế vi khó biện biệt.

 

Bất ngờ trước quá khích của “bọn trẻ”, nền văn chương nếp nhà đã có phản ứng, như nó phải thế. Thế nhưng, ý định dẹp bỏ hay phủi tay từ chối nó thì không gì dễ hơn. Bởi, không có sự phủ nhận hay phản bác nào hiệu nghiệm bằng khai mở thực chất của vấn đề. Tôi đã thử đi vài bước khởi động như thế, để dò tìm nguyên động lực và nhất là lật mở mạch ngầm triết học đã sản sinh loại thơ ấy, thời gian qua.

 

Như thế vẫn còn chưa đủ. Giữa cõi hỗn mang kia và tạm dẹp qua bên thái độ hư vô chủ nghĩa vô trách nhiệm cùng các sáng tác phẩm thứ cấp mang tính thời thượng học đòi , cho dù thế hệ nhà thơ hậu hiện đại thu hoạch thành tích chói lọi làm phong phú văn chương bao nhiêu chăng nữa, một câu hỏi cấp thiết hơn bao giờ hết vẫn phải được nêu lên: Cơ đồ lớn lao, sự nghiệp vĩ đại mà chi, khi chúng ta vẫn còn chưa vượt thoát khỏi nỗi sợ hãi căn nguyên đẫm thú tính? Và nhân loại, họ cư trú và sống như thế nào giữa lòng thời đại khủng hoảng, trước đe dọa của vũ trụ vô tình, trong nỗi thiếu Quê hương ngày càng nghiêm trọng? Cuối cùng: Thi sĩ làm gì, để một lần nữa đưa thơ ca vượt qua nỗi giàu sang vô độ của bao nhiêu trào lưu văn chương đương đại, từ đó tiếp cận với cõi miền uyên nguyên của thơ ca và ngôn ngữ.

 

Ví tự quảng bá tên tuổi, tuổi trẻ chỉ làm nô lệ cho đám đông dễ thay đổi. Còn tuyên bố sản phẩm mình là rác, thi sĩ chỉ mới dừng lại ở ngưỡng phản ứng và phản kháng. Khi sự phồn vinh giả tạo của thế giới đang đẩy con người ngày càng xa rời bản thể giản đơn của thực tại, mải bơi vô căn giữa vũng vô minh của thứ ngôn ngữ giả trá, thi sĩ làm gì? Trước tiên và trên hết, bên cạnh tri nhận phản kháng chỉ là một hành động khởi sinh từ ý hướng dứt áo lên đường tìm cầu, chúng ta cần phải khám phá ra rằng con người đang bị trục xuất khỏi Quê hương, đúng hơn – Quê hương che giấu con người thời hiện đại ánh sáng soi rọi đường trở về của nó. Tuy thế, vừa thẳng tay trục xuất đồng thời Quê hương luôn vẫy gọi đứa con lưu lạc.

 

Bổn phận của thi sĩ là canh giữ ngôi nhà của Tính thể: ngôn ngữ. Nhưng ở hôm nay, thi sĩ của ngày hôm nay, có ai thức nhận sâu thẳm sự thể đó và tự nguyện dâng tặng mình cho công cuộc nặng nhọc nhưng đầy vinh quang đó chưa?

 

Không ít bạn trách tôi mất giờ cho thơ tiếng Chăm

có bao lăm kẻ đọc? Rồi sẽ còn ai nhớ?

nhưng tôi muốn lãng phí cả đời mình cho nó

dù chỉ còn dăm ba người

dù chỉ còn một người

hay ngay cả chẳng còn ai!

(Inrasara, Tháp nắng, 1996)

 

Lối nói to này dễ tạo ngộ nhận là một thể cách gây chú ý. Nhưng không. Đấy là tâm thế “trụ vững”, của tâm hồn thi sĩ kiên trì bất thối chuyển trong sử mệnh mục tử của mình: chăn giữ ngôn ngữ. Khi ý thức minh nhiên bổn phận, người mục tử hoàn toàn không quan tâm đến cái nỗi mình đã vang tiếng hay còn chìm trong vô danh, không phân tâm trước vô số ống kính thông tin đại chúng chĩa vào mình.

 

Đây là thời đại của văn minh phương Tây. Không thể phủi tay chối từ hay chạy trốn. Chúng ta đang thở hơi thở của siêu hình học phương Tây. Dấn bước lên con đường thơ ca, thi sĩ buộc phải đi đến tận đầu mút con đường chọn lựa. Từ lâu rồi, người ta không còn tin tưởng vào mọi thứ chủ nghĩa. Các trường phái văn nghệ chỉ có thể tạo nên trào lưu khả năng làm sôi động không khí sinh hoạt văn chương, trong một giai đoạn – rất nhất thời. Nhưng dù thế nào đi nữa, thi sĩ hôm nay cần trải nghiệm trọn vẹn hành trình thơ của nhân loại: tiếp nhận và thể nghiệm. Nhập cuộc chịu chơi, trò chơi của thế giới (le Jeu du monde – M. Heidegger). Để cuối chặng đường, chúng ta làm cuộc đi xuống, tận đáy thẳm của bản thể thơ ca.

 

Bởi, thơ ca như là thơ ca thì không có tiến bộ. Hành trình thơ ca là hành trình đi ngược về nguồn, đến tận suối nguồn uyên nguyên của ngôn ngữ. Người mục tử chăn dắt ngôn ngữ như thể được ngôn ngữ ban tặng cho họ bổn phận chăn dắt giản đơn mà khó nhọc, đời thường nhưng tràn đầy linh thánh. Đó là quà tặng độc nhất của và từ suối nguồn. Nó mang ở tự thân lời tạ ơn cao vời sâu thẳm.

 

Quỳ gối trước đoá hoa dại nở đồi trưa

tạ ơn bàn tay đưa ra bất chợt

tạ ơn câu thơ viết từ thế kỷ trước

giọng cười xa, nụ hôn gần.

 

Quỳ gối trước mặt trời thức giấc mỗi sớm mai

tạ ơn chén cơm đói lòng, điếu thuốc hút dở

tạ ơn dòng sông mơ hồ chảy qua tuổi nhỏ

tên ngọn đồi, cánh rừng trong mơ chợt vang lên

tạ ơn bước chân hoang, trái tim lầm lạc.

 

Bởi không thể sống mà không tạ ơn

tạ ơn trang giấy trắng, tạ ơn dòng thơ cuối cùng chưa viết

tạ ơn không gian vô cùng, thời gian bất tuyệt

và,…dẫu không là cái đinh gì cả / tôi vẫn cần thiết có mặt.

 

Vậy nhé – tôi xin tạ ơn TÔI.

(Inrasara, Lễ tẩy trần tháng Tư, 2002)

 

Qua dấu vết tinh khôi giản đơn của ngữ ngôn được đêm sáng Quê hương soi rọi, thi sĩ trì trì đưa bước chân đi vào khoảng thanh bình ẩn mật của Quê hương, một miền trụ xứ thiết thân. Qua hành vi đi vào này, tính thể con người được nhận diện trong chân tướng của nó, từ đó khả tính họ được phơi mở trọn vẹn, như nó vốn là thế. Khả tính này là một tặng vật. Tặng vật từ Quê hương ban tặng cho Quê hương. Để thi sĩ trên đường về Quê hương hát ca về con đường.

 

Trên đường trở về, thi sĩ và ngôn ngữ thơ ca tìm thấy nhau, hết làm lang thang lạc lõng. Thi sĩ ưu tư cho canh giữ ngôn ngữ như là sứ mệnh cao cả duy nhất mà không một lần liếc sang các lĩnh vực nghệ thuật khác đầy thòm thèm, đố kị. Thi sĩ ném mình trong vùng đêm sáng khai mở, buông xả trên con đường. Khi buông xả như thế, không phải thi sĩ an cư vĩnh viễn như thể một về vườn hưu trí mà, luôn ở tư thế sẵn sàng chịu bị đẩy rơi vào miền tối trở lại. Cắt lìa khỏi Quê hương. Sự thể gây đau khổ và chia xé. Nhưng đấy là đau khổ và chia xé đầy tràn niềm vui cao vời. “Sớm nghe đạo, chiều chết cũng cam” – Khổng Tử. Niềm vui và cái chết. Niềm vui hiếm hoi không dễ giành được, là được giao ngộ với cái chết. Không còn chia cách không-thời gian, sớm với chiều, nay hay mai mà – tại đây và bây giờ. Đi lại thân mật chuyện trò. Giữa đám đông hay trong cô đơn. Sẵn sàng được chết. Cái chết ngoảnh đi và quay lại. Cái chết đẩy xa ra và vẫy gọi tới gần.

 

Bởi, cái Chết chính là Quê hương. Thi sĩ mãi mãi là kẻ lưu trú nơi ngoại ô Quê hương. Một trú xứ mang tính sử mệnh.

Chính ý nghĩa của vô nghĩa của hành vi cư lưu này biện minh cho hiện hữu của con người trên mặt đất”.

 

Sài Gòn, 07.06.2008.

_______

 

Chú thích:

 

(*) Sáng thức dậy, tôi nhận ngay tin nhắn của bạn văn: “Bai cua PQT la mot tieu luan ‘lon’ va ‘hay’. Ong can co bai an theo de luu danh thien co. Nên, mới có bài này.

(1)  Tôi say mê triết học từ rất sớm. Sau khi đất nước thống nhất, mọi thông tin liên quan đến triết lí tư tưởng trên thế giới bị đứt. Mãi khi Internet ra đời và nhất là vào năm 2000, khi tôi tình cờ đọc một tiểu luận của Hoàng Ngọc-Tuấn về hậu hiện đại, từ đó tôi lần tìm các tác phẩm nền tảng của M.Foucault, J-F.Lyotard, R.Barthes, J.Derrida, G.Deleuse,… Do đó, tôi rất muốn nói lời cám ơn họ về điều này.

(2) Có thể nói, R.Chandra so với J.Krishnamurti cũng như J.Derrida với M.Heidegger, cũng thẳm sâu và niêm hoa vi tiếu như thế, nhưng người sau thì “quậy phá” hơn, nên có vẻ vui nhộn hơn. Chính bởi nỗi mê Krish (lúc đó tôi thuộc lòng Tự do đầu tiên và cuối cùng cả bằng tiếng Anh lẫn tiếng Pháp) mà tôi bỏ Đại học. Sau đó, để cạnh tranh với Hiện tượng Krishnamurti của Trúc Thiên, tôi cũng đã viết một cuốn tiểu luận mỏng manh tương tự, nhưng theo một lối nhìn khác (tiếc là bản thảo duy nhất tôi tặng người bạn, cô ta đánh mất đâu không tìm ra). Đến năm tam thập, tôi không đọc dòng nào của ông nữa. Riêng Heidegger thì ngược lại, đó là thứ giếng sâu thăm thẳm không bao giờ cạn, càng múc nước càng trong.

(3) Phạm Quang Trung trong bài “Sáng tạo cái mới trong nhãn quan các nhà lý luận văn chương Việt Nam hải ngoại”, Vanchuongviet.org, 07.06.2008. Hãy sống mà nhớ lấy ngày này: 07.06.2008. Nghĩa là tám năm rưỡi cỏ lẻ của thiên kỉ thứ ba sau Công nguyên. Ở đó có mấy điều buồn cười như vầy:

- Ông kể 3 “công trình lý thuyết đích thực” của Nguyễn Hưng Quốc và Hoàng Ngọc-Tuấn và ông cho thế “số lượng là chưa nhiều, càng ít hơn nếu chỉ khuôn vào thế kỷ XX”. Sự vụ nói lên cái điều: ông kiểm kê tài sản hợp tác xã bằng cách mang số thóc trong kho nhà mình ra đong, lạ vậy chớ!

- “Có điều, những tác động nhiều chiều, thường phi chính thống, lại rất đáng kể”. Ông tự coi mình chính thống, kẻ thiên hạ – không! Thời đại thông tin liên mạng mà ông còn mang tâm phân biệt đối xử vậy, hỏi có cấm bà con cười được không! Ở tiết mục này ông có thể cãi lại: sao ông dùng từ “ngoài lề”, “phi chính thống” thì được, còn tôi thì ông cho là có “tâm phân biệt”. Tôi thường trực suy tư ở đường biên thì chả sao: tôi dùng nó để vượt qua nó. Còn ông không dưng nhảy vào kêu thiên hạ “phi chính thống”, thì trúng quá đi rồi chứ chạy vào đâu!

- “Dấu ấn rõ rệt hơn cả có lẽ là ở cuốn lý luận, phê bình mang tên Chưa đủ cô đơn cho sáng tạo của Inrasara”. Mèng ôi, dấu ấn Sara tui chỉ có ở mỗi 3 cuốn trên! Vậy là ở cõi miền hải ngoại, ông tự chứng tỏ chưa biết đến chục nhà khác với mấy mươi tác phẩm lí luận phê bình không phải không “đích thưc” khác, càng chứng tỏ ông chưa đọc [hết] hơn 30 số tạp chí Thơ ở Mỹ, 8 số tạp chí Việt tại Úc, và bao nhiêu là Hợp lưu, Talawas.org, Tienve.org, Damau.org, Amvc,… nữa! Chưa đọc, được thôi, nhưng sao dũng cảm đưa nhận định chớ? Đó là nói phần tiếng Việt. Ông còn không nhìn ra tư tưởng Ấn Độ với M.Heidegger là nguồn cảm hứng bất tận của lối viết và nhận định của tôi nơi Chưa đủ cô đơn nữa. Làm như tôi độc sáng ghê lắm! Tôi cũng là loài nhai lại thôi, nhưng nhai lại đám cỏ tận… nguồn.

- Nữa: Ông lôi có mỗi Nguyễn Hưng Quốc ra “khỏ”, vậy mà tên bài to tổ chảng: “Sáng tạo cái mới trong nhãn quan các nhà lý luận văn chương Việt Nam hải ngoại”. Vui vậy chớ! Làm như cõi hải ngoại đèo heo ấy chỉ có mỗi Nguyễn Hưng Quốc với Hoàng Ngọc-Tuấn. Làm như ở đó chưa hề có Đặng Tiến, Trịnh T. Minh-hà, Chân Phương, Nguyễn Minh Quân, Thụy Khuê, Đoàn Cầm Thi, Nguyễn Thị Từ Huy, Nguyễn Hương,…

- Về Phạm Quang Trung thì ai cũng biết rồi. Ông đọc”diễn văn” tại Hội nghị Lí luận - phê bình tại Đồ Sơn bị người thiên hạ vỗ tay 5 lần 6 lượt mới chịu đi xuống (có giấy trắng mực đen hẳn hoi nhé!); ngay sau đó cũng tại diễn đàn trên, nhà phê bình Nguyễn Hòa trước khi tham luận, có nhắc nhở nguyên văn “sai lầm của Phạm Quang Trung là cứ ngỡ những người trong hội trường là sinh viên mình ở Đà Lạt!”. Nghĩa là ông nói lí luận của một thời rất xa trước ba trăm đại biểu toàn nhà văn, nhà phê bình có cỡ.

Ờ, thì là chuyện cũ.

Nhưng hà cớ hôm nay ông kéo tôi một cách vô tội vạ vào bài viết ông? Chuyện ông nhắm “khỏ” Nguyễn Hưng Quốc thì rõ ban ngày rồi. Nào là: “nó vu khoát, chới với… có thể nói là quá hẹp hòi… trên lập trường cạn hẹp của bản thân… không chỉ tỏ ra thiếu cảm thông mà còn rất thiếu hiểu biết... những nhận định khá hồ đồ… sự cạn cợt về lý và sự vô cảm về tình… thuần một lối đánh giá chủ quan, thiện lệch… rơi vào cực đoan, phiến diện”, cho nên ông “thấy nghi ngại, thậm chí bất tín”.

Nghĩa là rất… bậy bạ, đầy nọc độc và đáng lên án. Vậy mà: “Có điều, những tác động nhiều chiều, thường phi chính thống, lại rất đáng kể. Đây đó, nếu tinh ý, ta có thể nhận ra tiếng đồng vọng xa gần. Dấu ấn rõ rệt hơn cả có lẽ là ở cuốn lý luận, phê bình mang tên Chưa đủ cô đơn cho sáng tạo của Inrasara. Những ảnh hưởng sâu xa dường như lại âm thầm nằm trong các sáng tác mới, phần đông là của các cây bút trẻ ở cả ba miền”.

Ông đánh hơi ra và ông viết “báo cáo”. Ông bắt tận tay Inrasara và các cây bút trẻ ở cả ba miền. Là tên nào ông sẽ báo cáo sau. Thế là ông tiếp tục cảnh giác… để tâng công. Rất đáo để.

Thôi còn nhiều cái vui nữa, chương trình văn nghệ hợp tác xã xin tạm ngừng tại đây.

Inrasara
Số lần đọc: 2757
Ngày đăng: 07.06.2008
[ Trở lại ] [ Tiếp ]
In tác phẩm Góp ý Gửi cho bạn
Cùng thể loại
Trình diễn thơ trong Festival Huế - Nguyễn Khắc Phê
Nhập lưu hậu hiện đại kì 5. - Inrasara
Nhập lưu hậu hiện đại kì 4. - Inrasara
Nhập lưu hậu hiện đại kì 3. - Inrasara
Nhập lưu hậu hiện đại kỳ 2 - Inrasara
Nhập lưu hậu hiện đại kì 1 - Inrasara
Bốn cứu cánh của đạo sĩ Bà-la-môn & thơ - Inrasara
Viết ngắn 08. Cách mạng nghệ thuật, nhìn từ hội họa - Inrasara
Viết ngắn 07.:Nhà thơ & cái tầm - Inrasara
Viết ngắn 06. Phê bình thơ - Inrasara
Cùng một tác giả
Hành trình Katê (dân tộc học)
Muộn (thơ)
Tạ ơn (thơ)
La cà tết kinh (tạp văn)