Ủng hộ VCV
Số tác phẩm
21.890 tác phẩm
2.557 tác giả
223
73.017.492
 
Đêm Màu Hồng
Võ Công Liêm

La vérité est plus choquante que la fiction *

(A.Robble-Grillet)

 

Từ Pleiku về Sài Gòn bằng chiếc trực thăng hai quạt Chinook của Không Lực Mỹ, đáp xuống phi trường quân sự vào nữa đêm, trời vẫn còn mưa,mặt đường ướt, soi rõ những ngọn đèn in bóng lung linh trên mặt lộ. Tôi ngồi yên trong lòng tàu sau khi chuyển xong ba quan tài lính Mỹ ra khỏi đây. Hành khách dân quân Việt Mỹ vội vã, đầu đội mưa chạy nhanh về phiá phòng khách phi cảng.

 

Tôi đút đầu vào chiếc Jeep quân sự mà “ông thầy” đã bố trí đưa tôi về thành phố, phố phường lúc ấy đã đi ngủ, rải rác một ít người đi chơi đêm về muộn, một vài con chó ốm đứng cạnh đống rác bên đường. Người tài xế cắm đầu lái, không nói. Tôi mở gói thuốc mời anh ta, hắn lắt đầu từ chối. Chẳng bao lâu xe đến nhà. Căn nhà băng-ga-lô xây gạch, tráng vôi trắng, kiểu Tây ở đường X. quận Y. Hiên nhà vây quanh giàn hoa giấy màu tím tiá, trồng đã lâu;bên trong trang trí đơn sơ, phòng ngủ tương đối thoáng mát. Người quản gia đưa tôi phong thư, cầm trên tay, không thấy ghi tên người gởi, mở ra đọc: ”Ngày 23 tháng 12 năm 197…tôi đến Sài Gòn vào khoảng 5 giờ chiều. Cậu chờ tôi ở nhà. Ký tên T.T.N.”

 

Tôi vật người lên giường và đánh một giấc tới gần trưa cùng ngày.Bừng mắt dậy không nghe một tiếng động nào trong nhà, chỉ còn lại một mình. Bên ngoài, gió rì rào lay động những bụi cây trong vườn, tiếng còi xe vọng lại từ xa. Tôi nghĩ đến Ái Cầm giữa lúc tôi còn những việc khác phải làm cho “ông thầy”.Gác lại; tôi phải đi gặp nàng, ba tháng qua không một tin tức về người yêu. Đó không phải là điều làm tôi nghi vấn, tôi hiểu rõ tâm hồn Ái Cầm từ ngày hai đứa gặp nhau ở trường sĩ quan Thủ Đức và mãi cho tới bây giờ. Hai đứa tôi giữ kẽ cho nhau. Bởi cuộc tình thơ mộng và lý tưởng. Tôi nghĩ thế.

 

Ái Cầm gặp lại tôi, nhoẻn nụ cười thân ái,dưới tà áo lụa màu hạnh nhân,tóc chít cao, nàng có cái dáng kiêu sa, đài các, sau khi tắt nụ cười trên môi, Ái Cầm trở về nét đẹp sầu muộn của người Trung Đông. Tôi đi bên cạnh nàng thơm mùi hương hoa mộc lan, nàng nghe tôi nói nhiều hơn nàng nói, khách qua đường đưa mắt nhìn say đắm. Trời chiều Sài Gòn có gió trong lành thổi từ lòng sông lên làm tung bay những tà áo mỏng, những ngọn đèn màu khoe sắc quyến rũ, tôi cảm thấy êm dịu và cố tâm thụ hưởng cái không gian, thời gian lúc nầy, để bù vào những ngày tháng mịt mù sương khói ở tuyến đầu. Tôi lao mình như thích khách, bởi Ái Cầm là phép mầu của tình yêu. Hai chúng tôi đi lần vào bóng chiều của một ngày cuối tuần trong một thành phố đầy ấp hẹn hò…

 

Chiếc Citroen DS đời 65 màu huyết dụ đổ ngay trước sân nhà. “Ông thầy”kẹp xấp hồ sơ trong nách, tay kia xách samsonite da đen, xô cửa bước vào nhà, tôi sẳn sàng đứng đợi ở cửa đón ông thầy.

 

Ông nới cà-vạt ở cổ, áo sơ-mi đẩm mồ hôi, hai má phình tròn dưới lớp da nâu, chiếc áo vét màu cứt ngựa không che nổi cái bụng trướng của ông. Hình hài và y phục như thế khó mà nhận ra đây một con người đạo đức. Y buộc miệng hỏi:

-Mọi chuyện xong rối chứ?Cho tôi tin tức về Pleiku. Đường giây ở Camp Holloway thế nào? Giá cả không thay đổi? Nghe Hai Trí đòi giảm vì tình hình cuộc chiến mỗi ngày mỗi trở nên khốc liệt? Ông thầy hỏi.

-Dạ thưa anh tình hình sinh hoạt không đến nỗi tệ. Em sẽ giải quyết ổn. Tôi nói.

-Ít hôm nữa cậu đi miềnTrung. Tôi sẽ thảo luận với cậu. Đợi tin tôi. Ông thầy nói.

Trao cặp da cho tôi đoạn dạo quanh nhà, giây lát thì thấy xe đã ra khỏi cổng sắt. Gió đuổi theo xe để lại đám bụi mờ giữa buổi sáng trời khoe nắng, bên ngoài xe cộ ào ạt tuôn như dòng thác. Tôi ngồi xuống ghế, ôm đầu trong tư thế lo lắng cho một ngày mai mà mình phải đương đầu với việc làm hết sức nguy hiểm giữa thời buổi nầy, điều suy nghĩ lớn lao nhất là xa Ái Cầm, cứ mỗi lần gặp nhau không dài lâu thì lại chia xa; đáng ra tôi phải dành trọn thời gian yêu thương với Ái Cầm. Có thể hôm nay hay ngày mai tôi đi theo lệnh cấp trên,một cái thế chẳng đặng đừng mà buộc phải chấp nhận. Ngọn nắng bên ngoài len qua cửa sổ, đâm thẳng vào mặt tôi,xoáy tôi về với thực tại. Đứng dậy;lấy giấy ghi vội vài giòng gởi người yêu :”Em yêu! Anh phải đi về miền lửa đạn, điạ đầu giới tuyến. Có thể hôm nay hay ngày mai. Ngày về anh gặp lại em. Anh N.T”Tôi trao thư cho quản gia và chuẩn bị hành trang.

 

Quả như dự tính, ngày hôm sau tôi được lệnh lên đường với một sứ mạng”không tên”cứ như thế mà làm theo lời dặn. Vùng phi quân sự DMZ-17 thật hãi hùng, bốn bề vắng bóng người như bãi sa mạc hoang vu, căn cứ phi trường dã chiến quân sự đìu hiu một mình giữa lòng đêm, những trụ đèn buồn thiu toả thứ ánh sáng mờ ảo với dãy đèn phi đạo chôn sát đất chạy dài,gây cho tôi nỗi buồn xót xa và nhớ tới người yêu, tôi rùng mình khi nghe tiếng súng nổ từ xa đưa về, có lẽ ở  tuyến phòng bên kia hay bên này. Đêm phủ lấp không gian, khó mà định hướng lúc nầy mình đang ở đâu,tôi gắn điếu thuốc lên môi, nhả khói chờ đợi người mình sắp gặp.

-Xin ông xem lại mặt hàng có đúng số lượng như trong biên bản đã ghi?Tôi nói.

Tôi trao tất cả những gì tôi có trên tay cho người khách lạ và nhận ở họ một xách tay khác. Người khách vỗ vai tôi với lời lẽ dặn dò như gởi niềm tin.

-Mọi sự đều tốt đẹp. Tôi sẽ điện vào cho thiếu tá Nghị hay. Người khách lạ nói.

Nằm lại trong căn cứ tiền đồn chờ phương tiện để vào Nam. Đã ba ngày qua tôi ở trong thế bị động, trận chiến bùng nổ,ngày đêm giao tranh,có lúc nghe như gần bên mình,lực lượng hậu cần được tăng viện, mọi giao thông bị gián đoạn, kể cả những phi vụ cần thiết đều hủy bỏ, tiếng rì rào của máy truyền tin khi rõ, khi tắt nghe khó chịu. Tôi sốt ruột đợi tin. Đêm hỏa châu cháy sáng cả khung trời,  ánh sáng lung linh, lơ lửng giữa đêm đen, rớt nhanh xuống nền đất khô. Đang mơ màng về người yêu, về sự sống chết, về cuộc đời sớm có, mai không,một địa ngục trần gian mà tôi đang sống,nhiều lúc phải vịn vào tình yêu để quên đi cái chết, quên đi hận thù, máu đổ, thịt rơi, tôi biến tôi thành người máy, nhưng người máy biết suy nghĩ về tình người, trong đó Ái Cầm; người là cái phao kéo tôi ra khỏi dòng nước cuốn. Tôi nghe rõ tiếng người, tiếng nổ gần bên tôi, thoắt nhìn thì nhận ra người khách lạ mà tôi đã trao đổi mấy hôm qua, tiến gần phiá tôi, nhìn thẳng vào mặt:

-Ông phải võ trang ngay! Lệnh cấm trại bắt đầu từ bây giờ. Ông được lệnh ban chỉ huy tiền phương chuyển ông sang đại đội tác chiến biên phòng. Người khách lạ mang quân hàm đại úy nói.

-Không! Tôi trực thuộc đơn vị thiếu tá Nghị. Quân đoàn Z.Tôi nói.

-Ông trả lại những thứ mà tôi đã trao cho ông. Tôi đã liên lạc với thiếu tá Nghị.

Khi nào tình hình lắng dịu, tôi chuyển trực tiếp cho thiếu tá. Ông an tâm điều đó.

 

Viên đại úy đại đội trưởng ngoảnh cổ bước vào bóng đêm với hai người lính cận vệ. Tôi nghe tiếng động cơ rền bên tai, cảnh tượng trở nên hỗn độn trước sự giao tranh. Tôi nhập cuộc chiến, có thể đây là trận chiến cuối cùng, bởi tình hình  biến đổi nghiêm trọng từng giờ, từng ngày và ngay cả tôi cũng không biết sẽ đi về đâu giữa hoàn cảnh lúc này.

 

May mắn thay tôi được lịnh rút về hậu cứ và sau đó theo đoàn quân vận vào Sài Gòn. Tính ra tôi đã”nằm vùng”  ở địa đầu giới tuyến hơn cả tháng trời, trong một tinh thần khủng khoảng cực độ. Tôi nhớ những tháng ngày phải xa người tình mà tôi mong được trở về. Ngày đó vào cuối tháng 2/197…

 

BA NĂM TRƯỚC

 

Đứng trên khán đài ngày mãn khóa ra trường sĩ quan Thủ Đức. Tôi thấy Ái Cầm ngồi cạnh Thủy và Tùng. Tùng là bạn tôi,hiện chàng đang phục vụ trong binh chủng Dù. Họ đến dự lễ để chia xẻ niềm vui người em ruột của Tùng. Trong buổi hội ngộ liên hoan trường,tôi được Thủy giới thiệu,trong phút giây tình cờ, tôi si tình Ái Cầm. Từ đó chúng tôi thường có những buổi hẹn hò. Tôi nghỉ phép một tuần trước khi trình diện đơn vị. Những phút giây ngắn ngủi đã để lại trong lòng chúng tôi những kỷ niệm đẹp. Cứ mỗi lần đi công tác hay về phép là tôi phóng đến gặp Ái Cầm, mỗi lần gặp nàng là mỗi thổn thức trong tôi, ở nàng như có cái gì cuốn hút tôi, chứa một điều gì bí ẩn mà bắt tôi phải khám phá…

 

Ái Cầm không phải là dân thổ công vùng đất hoa lệ nầy, nàng là con dân “cày lên sỏi đá”trú nhà người bạn học. Và mỗi lần Tết đến thì đón tàu về quê thăm mẹ cha. Tôi muốn cùng đi với nàng nhưng thời buổi nầy đâu phải dễ.

-Anh muốn đi thăm ba mẹ em và tham quan vùng đất mưa dầm, gió bấc ngoài đó. Được không em? Tôi nói.

Ái Cầm cúi đầu,đứng lặng yên không nói, mỉm cười với đôi mắt buồn bẩm sinh,gió nhẹ thổi luồng qua tóc nàng mơ hồ như tranh vẽ. Ái Cầm đưa tay khép tà áo mỏng, nói thật khẽ vào tai tôi:

-Anh chưa về thăm được đâu. Anh ở đơn vị đã bao lâu mà giờ xin đi xa, hơn nữa thời gian nầy chưa mấy thuận lợi cho em và anh; anh cũng biết gia phong nhà em rất cổ kính.

Hôm sau; vào dịp cuối tuần, tôi đưa Ái Cầm đi nghe nhạc ở phòng trà. Đêm Sài Gòn có dáng dấp ăn chơi như ở Âu châu, đủ mọi thành phần quân dân cán chính,thành phố về đêm sáng ánh đèn mầu, tiếng nhạc từ lầu cao đổ xuống,gió thoảng mùi thơm khắp phố phường. Tôi ôm vai Ái Cầm,bước đều trên kè đá hàng hiên, nghe chậm rãi. Tiếng kèn xắc-xô rít ngang tai điệu “slow-rock” nghe sao mà thấm thía buồn thiu, tôi nghe mơ hồ trong trí như một khúc tình nào đó…Thế rồi chúng tôi đã đến phòng trà ca nhạc Đêm Màu Hồng. Tôi dìu Ái Cầm bước lên bậc thang, đèn hồng soi rõ những bước đi của nàng, tiếng nhạc đến gần bên tai làm cho gương mặt nàng thêm bẽn lẽn, cái bẽn lẽn của gái Huế trông dể yêu hơn bao giờ.

-Chắc chưa lần nào em đến chốn nầy? Tôi hỏi.

-Đúng thế anh ạ!  Vì nơi đây em không đủ điều kiện và tư cách để vào, nhất là em một sinh viên nghèo, tá túc trong xóm lao động, chỉ có một cái nhìn về quê nhà, nơi em mong được trở về. Ái Cầm nói.

-Anh hiểu điều em nói. Nhưng em phải sống. Sống nhanh và sống vội như cuộc đời mình đang sống. Anh không biết ngày mai mình sẽ ra sao. Tôi nói.

-Vào đây;ngồi bên anh, nhìn những khách hào hoa phong nhã, những đám văn nhân sĩ tứ, nhìn những cặp nhân tình lả lướt trên sàn nhảy, khói thuốc và rượu của những người sành điệu đã cho em một ấn tượng rõ nét “Sài-Gòn-Không-Chiến-Tranh”không biết anh có đồng ý với em như thế không? Nàng nói tiếp:

-Và tại sao họ có cái tên gọi Đêm Màu Hồng ở giữa thời buổi nầy. Em suy nghĩ mãi. Ái Cầm nén tiếng thở dài trong đôi mắt buồn vời vợi.

Hai chúng tôi ra khỏi Đêm Màu Hồng lúc đó gần nữa đêm, đường phố vắng, nàng ngồi bên tôi mỉm  cười hiền hậu. Kỷ niệm thật khó quên trong tôi.

 

*

 

Trên đường xuôi Nam, tôi kẹt giữa đèo”Gió Hú”vì trận chiến đang giao tranh ở mũi đầu,hằng loạt xe có lệnh phải dừng,chờ lệnh mới. Xe và người ngủ đêm giữa lưng đèo. Tôi không thể nào nhắm mắt được, tiếng pháo,tiếng đạn rát bên tai làm cho binh sĩ cũng như thường dân bàng hoàng lo sợ, người ta nóng lòng sớm được về nhà, biết đâu người thân của mình đang nằm trong lửa đạn, hoặc vùi thân dưới mưa bom. Những tin tức thất thủ từ xa đưa về hoặc qua truyền tin, dân quân rơi vào tuyệt vọng. Tôi cũng tuyệt vọng nếu Ái Cầm có mệnh hệ gì. Hình như vận nước có chiều thay đổi. Tôi không ngờ sự thế diễn tiến nhanh như thế. Đêm trên đèo cao như đêm trên đèo ma. Bóng tối chập chùng như báo điềm xấu sắp xẩy đến. Thần sắc tôi “xuống độ”thấy rõ. Không chịu đựng nỗi; có nhiều người ôm súng chạy về phiá trước, có kẻ còn nuôi thêm hy vọng.

-Thôi chết rồi anh em ơi! Xong rồi. Chạy đi đâu đây? Thượng sĩ già quân vận nói.

Từ đó chúng tôi rã ngủ, dậm chân tại chỗ chờ lệnh mới. Tôi được đưa về một doanh trại cũ còn hôi mùi khói súng và cụm lửa tàn còn vương màu khói đục…

 

Ái Cầm đứng đụt mưa dưới hiên trường Đại Học Văn Khoa. Nàng mong mưa dứt nhanh để phải còn qua Tổng Hội Sinh Viên. Ái Cầm giờ đây không còn là một sinh viên ngoan hiền như ngày nào,nàng biến dạng trong lớp phục sức giản dị, cái giản dị không còn thuần chất mà tợ hồ như che đi cái đảo lộn giữa vật chất với con người. Ái Cầm cuốn theo chiều gió, nương vào gió làm nơi trú ẩn giữa một thời nhiễu nhương. Thỉnh thoảng trong phút giây bất chợt, nàng nhớ về người tình xa “giờ này anh ở đâu?” Ái Cầm rùng mình và trở về trạng thái “dấu kín”. Nàng ngồi thu mình trên ghế, chờ Miên chủ tịch tổng hội giao công tác mới. Một công tác xã hội hơn là công tác học đường. Nàng hiểu điều đó.

Năm sau Ái Cầm ra trường. Nàng trở về quê. Một quê hương ràn rụa nước mắt, nàng nhìn cái sụp đổ của căn tiền đường, mà giờ đây khó lòng tu sửa; dù có cống gắng chăng nữa cũng không làm được .

 

Đầu thu 197…Ái Cầm nhận công tác giáo viên trường phổ thông Tỉnh. Nàng hưởng chế độ lương bổng, tem phiếu và đời sống dưới một xã hội mới. Nàng bằng lòng như mọi người bằng lòng, vì cuộc đời là thế nên phải thế. Ái Cầm đi dạy bằng chiếc xe đạp Phượng Hoàng TQ, đó là nhịp sống mới đối với nàng. Mẹ Ái Cầm đã bán đi một vài di sản để đổi lấy chiếc xe đạp”hoành tráng” đó cho nàng ngày hai buổi.

 

Chiều nay Ái Cầm đi dạy về nhưng không mấy vui như mọi ngày. Nàng buồn không phải vì nhiệm vụ,chức năng nhà giáo. Nàng buồn vì nhớ ngày kỵ của cha già sắp tới, nhớ người tình xa, sống hay chết, bặt vô âm tín gần hai năm nay. Ái Cầm nhìn lên bàn thờ,hình bóng người cha thân yêu và bát nhang còn tươi rói, nàng cảm thấy quặn đau trong lòng. Hoàng hôn xuống chầm chậm như đời nàng xuống chầm chậm mà không ai hay. Nghe tiếng gọi, nàng nhìn lui.

-Ái Cầm! Thắp cho ba cây hương rồi xuống ăn cơm với mẹ. Người mẹ nói.

Nàng bước vào buồng, mở xấp hình ra xem người yêu cũ, nàng ngắm nhìn trong đôi mắt ngấn lệ và chậm rãi bước xuống hiên sau, khi đó trời đã nhá nhem tối.

 

MƯỜI NĂM SAU

 

Từ miền Bắc trở về nguyên quán, quê hương tôi ở Đồng Tháp, vùng đất cuối của lãnh thổ, thuộc miền Nam. Về đến nơi thân sinh tôi đã qua đời, vật đổi sao dời; hình như xóm làng khó nhận ra tôi. Bởi tôi đã ra đi quá lâu? Sau thời gian quản lý; tôi quay đầu về lại Sài Gòn, bộ mặt Sài Gòn khác hơn xưa, người và vật thay đổi. Khó kiếm lại hình ảnh cũ, tôi cố tìm những khuôn mặt thân quen mà họ chẳng để lại một dấu tích nào hơn nữa. Tôi trôi theo giòng đời và bắt đầu cuộc sống mới. Với 40 tuổi đời”mày sẽ làm gì?” Tôi tự hỏi tôi. Thật như thế! Tuy không tật nguyền nhưng tôi biến thành một “thương phế binh”thời đại. Nhìn đời chạy quanh tôi như nhắc nhở tôi, như nhìn lại tôi bao đắng cay ê chề.

-Ê! Tường.Có phải mầy không? Tao! lính mầy ngày xưa. Tạo đây!Nhớ không?

Tôi bàng hoàng,cả hai chúng tôi đều thay đổi, khó nhận diện, già trước tuổi, nhưng nhờ núp trong cái bóng râm mát của tâm hồn, chúng tôi tìm thấy nhau. Dưới tàn cây trứng cá, Tạo nhìn tôi đăm chiêu, trong cái nhìn thương mong hay thương giúp. Dù không là gì nhưng được coi như niềm an ủi có nhau, có thể là điều mà hai chúng tôi cần người để nói;nói cái gì? Nói cái có và cái không mà đời đã để lại. Nhìn bạn mà không cầm được nước mắt. Tôi lặng người cúi xuống.

-Giờ mầy làm gì? Tạo hỏi.

-Tao chẳng làm gì? Tôi nói.

 

Kiếm được một chân đánh đờn ở phòng trà ca nhạc “Tình Nhớ”. Tôi cảm thấy mình như lột xác, như cô gái điếm hoàn lương, cái tì vết đó bỗng chốc không còn nữa mà chỉ còn lại trong ký ức. Cái hoài niệm của thi hào Nguyễn Du mà thuở xưa tôi chỉ ngâm nga vô tội vạ. Giờ đây là lẽ sống, là bài học của muôn đời. Tôi suy nghĩ mông lung giữa khoảng trống vô cùng.

-Uống đi. Sao đờn hoài thế! Còn phải để dành sức tối nay nữa chớ. Tay đờn cò đồng sàng mời tôi. Tôi thả cây đàn xuống nền nhẹ nhàng và hất cổ nuốt ực cụm rượu. Tiếng khà của tôi như lời ai oán. Cũng nhờ thế mà tiếng đàn vút cao.

 

Tôi đang gò lưng gảy bài “Dư Âm”thì có người khoát tay, mỉm cười ra hiệu muốn gặp tôi. Tôi không nhận ra người ấy là ai mà chỉ mường tượng trong trí nhớ, hay tại ánh đèn sân khấu làm lóa mắt tôi .

-Anh Tường!Nguyễn Tường phải không? Em đây! Ái Cầm. Còn nhớ em không? Đây anh Tuấn chồng em,dạy cùng trường.  Ở Huế mới vào hôm qua. Nghe tiếng đàn anh chơi em xót xa vô cùng. Giờ anh ở đâu? Em nghe người ta đưa tin anh chết 1975. Thực hư như thế nào hỡi anh? Ái Cầm nói.

Tôi ngồi lặng yên, không nói. Mỉm cười cùng nàng mà lòng thầm nhủ, Ái Cầm vô tư và đẹp như thuở nào, nàng vẫn là người yêu muôn đời của tôi bởi nàng là người trung thực và đáng tin cậy.

-Anh vẫn bình thường và anh vẫn sống. Mong sao em hạnh phúc là anh vui rồi.

 

Tôi đi vào con hẻm giữa đêm, âm thầm bước vô lều gỗ. Nơi đây là nấm mồ sống của tôi và cây đàn là tặng phẩm của những ngày cuối đời tôi. Tôi ôm kỷ niệm cũ và thiếp dần trong giấc ngủ về sáng. Đó là chuyện của một đời người…

 

*

Mùa thu năm 199… được tin Nguyễn Tường chết trên sàn diễn, khi dứt một tình khúc tuyệt đỉnh. Đám người đưa tiễn; phần lớn anh em hát dạo bên đường. Trong đáy thùng cây đàn có tấm giấy ghi:”Cây đàn nầy gởi cho Ái Cầm”. Không một ai biết tên người ấy. Mộ phần chôn ở nghĩa điạ“Cát Bụi”nơi  dành cho những người vô gia cư của thành phố ./.

 

( Remembrance-day 11/2010)

* “Sự thật còn thê thảm hơn cả hư cấu”.

Võ Công Liêm
Số lần đọc: 1143
Ngày đăng: 27.01.2011
[ Trở lại ] [ Tiếp ]
In tác phẩm Góp ý Gửi cho bạn
Cùng thể loại
Tìm về - Phạm Văn Nhàn
Chiến tranh - Trần Hoài Thư
Kẻ hát rong không cần quen biết - Trần Hạ Tháp
Âm Thầm - Lê Văn Thiện
Đời đầy chuyện ngạc nhiên - Trần Hoài Thư
Máy In Tiền - Hoàng Xuân Hoạ
Còn cọng rau dền - Nguyễn Lệ Uyên
Những Người Tưởng Thân Nhau - Lữ Quỳnh
Trăng vỡ - Phạm Thanh Phúc
Quá đã - Lê Văn Thiện
Cùng một tác giả
Lệ (thơ)
Đĩ về hưu (truyện ngắn)
Không dám mô (truyện ngắn)
Người Khách Lạ (truyện ngắn)
Đêm Màu Hồng (truyện ngắn)
Jazz (thơ)
N Ụ (truyện ngắn)
Thi sĩ và thiếu nữ (truyện ngắn)
Ka ra ô kê (truyện ngắn)
Người treo cổ (truyện ngắn)
Chút tình còn lại (truyện ngắn)
Thể tính thiền (tiểu luận)
Cụm hoa cúc sao (truyện ngắn)
Lời ru (thơ)
Thể tính thiền (tiểu luận)
Đi chơi xa (truyện ngắn)
MA-YÔ-CA* (truyện ngắn)
Hy Lạp (tiểu luận)
Phương thức (tiểu luận)
Đất lạ người quen (truyện ngắn)
Vào với thơ (tiểu luận)
Một chuyến đi Tây (truyện ngắn)
Cho Tôi (thơ)
Hư vô phản kháng (tiểu luận)
Đi tìm thú vui (tiểu luận)
Nẻo về của Ý (tiểu luận)
Đi vào cõi thơ (tiểu luận)
Thi ca đương đại (tiểu luận)
Vi diệu pháp kinh (tiểu luận)
Thiền Nhật Bản (tiểu luận)
Đam mê (thơ)
Sa mạc (thơ)
Cho tôi (thơ)
Dòng sông đêm (truyện ngắn)